Hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Dự thảo Bộ luật Hình sự: Định diện ranh giới giữa xử lý hình sự và chính sách khuyến khích khắc phục hậu quả
(TCTA) - Bài viết phân tích nhóm quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 09/10/2026, đặt trọng tâm vào ba thiết chế mới có quan hệ mật thiết với nhau: tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 30), bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự gắn với khắc phục hậu quả (điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 32) và mở rộng căn cứ quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (khoản 1 Điều 57). Trên cơ sở đối chiếu trực tiếp với Bộ luật Hình sự năm 2015 (Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025), bài viết chỉ ra bước tiến của kỹ thuật lập pháp, đồng thời, nhận diện những điểm nghẽn trong thực tiễn xét xử, giám định tư pháp, định giá tài sản và thi hành án dân sự. Từ đó, bài viết đề xuất năm nhóm kiến nghị, nhằm định diện rành mạch ranh giới giữa xử lý hình sự với xử lý hành chính, dân sự, bảo đảm chính sách khoan hồng đi liền với thu hồi triệt để tài sản.
Đặt vấn đề
Lần sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2026 diễn ra trong bối cảnh chính trị - pháp lý đặc biệt. Đây là lần đầu tiên, kể từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, hai đạo luật xương sống của tư pháp hình sự được đặt lên bàn nghị sự cùng một lúc, với yêu cầu đồng bộ hóa cả về nội dung và về thủ tục. Dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất (tháng 8/2026) gồm 03 phần, 25 chương, 416 điều; trong đó, bãi bỏ 25 điều, bổ sung mới 15 điều, sửa đổi, bổ sung 288 điều và giữ nguyên 113 điều[1]. Bản Dự thảo ngày 09/10/2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo) - văn bản được sử dụng làm đối tượng khảo sát của bài viết này - tiếp tục được chỉnh lý trên nền tảng đó.
Điều đáng chú ý là, tinh thần chi phối toàn bộ lần sửa đổi này không phải là gia tăng trừng trị. Dự thảo thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình xuống chỉ còn bốn tội danh: tội phản bội Tổ quốc (Điều 91), tội giết người (Điều 105), tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 234) và tội khủng bố (Điều 288). Không một tội danh kinh tế nào - kể cả các tội phạm tham nhũng (vốn từng nằm trong nhóm có mức hình phạt cao nhất là tử hình) còn giữ lại chế tài này. Khoản 1 Điều 43 của Dự thảo ngày 09/10/2026 cũng đã lược bỏ đoạn liệt kê “thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác”, chuyển sang cách quy định khái quát. Đó là một tuyên ngôn lập pháp rõ ràng về hướng đi nhân văn, lấy giáo dục, cải tạo và phục hồi làm trọng.
Định hướng ấy có cội nguồn từ chủ trương của Đảng. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (gọi tắt là Nghị quyết số 68-NQ/TW) đã xác lập nguyên tắc: “ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh tế, hành chính trước, cho phép các doanh nghiệp, doanh nhân được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại”; và dứt khoát hơn: “Trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự”[2]. Nghị quyết cũng yêu cầu phân định rõ trách nhiệm hình sự (TNHS) với trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự; giữa trách nhiệm của pháp nhân với trách nhiệm của cá nhân trong xử lý vi phạm và khi đã phải xử lý hình sự, thì ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế chủ động, kịp thời, toàn diện, coi đó là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo.
Từ chủ trương đến quy phạm là một chặng đường mà kỹ thuật lập pháp phải đi bằng những bước rất cụ thể. Câu hỏi trung tâm mà lần sửa đổi này phải trả lời không phải là: có nên khoan hồng hay không?, vì điều đó đã được khẳng định, mà là khoan hồng đến đâu, bằng cơ chế nào, do ai quyết định và kiểm soát ra sao? Nói cách khác, vấn đề cốt lõi là định diện cho được ranh giới giữa xử lý hình sự và chính sách khuyến khích khắc phục hậu quả - một ranh giới nếu vạch quá rộng, sẽ làm suy giảm tính răn đe và mở đường cho thương lượng TNHS ngoài tầm kiểm soát tư pháp; nếu vạch quá hẹp, mà lại tiếp tục hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự thuần túy, triệt tiêu động lực chủ động sửa sai của doanh nghiệp.
Bài viết tập trung phân tích nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Chương XVII của Dự thảo trong mối quan hệ hữu cơ với các chế định thuộc Phần thứ nhất, bởi lẽ, chính các quy định chung mới là nơi cơ chế “chuộc tội” được thiết kế, còn các điều luật cụ thể chỉ là nơi cơ chế ấy phát huy tác dụng.
1. Quy định cụ thể trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
1.1. Diện mạo mới của Chương XVII
Chương XVII của Dự thảo giữ nguyên tên gọi và kết cấu ba mục truyền thống, gồm 50 điều luật. Ba tội danh mới được bổ sung phản ánh khá chính xác những “địa hạt” rủi ro mới của nền kinh tế: tội vi phạm quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 181), tội vi phạm quy định về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa (Điều 190) và tội tổ chức khai thác thủy sản trái phép (Điều 228).
Điều 190 là một bổ sung có ý nghĩa thời sự đặc biệt. Điều luật hình sự hóa năm nhóm hành vi: chào bán, phát hành tài sản mã hóa trái quy định của pháp luật; cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa trái phép; sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán tài sản mã hóa; thao túng thị trường tài sản mã hóa; và tổ chức, thực hiện giao dịch hoặc làm trung gian cho người khác mua, bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản mã hóa để thực hiện các hành vi trái quy định của pháp luật. Kỹ thuật xây dựng điều luật này khá chuẩn mực: mở đầu bằng mệnh đề loại trừ “nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 157, 158, 278 và 316 của Bộ luật này” để tránh chồng lấn với các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng hệ thống thông tin hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và rửa tiền.
Một thay đổi có tính nền tảng lý luận, nhưng dễ bị bỏ qua, nằm ở Phần thứ nhất. Khoản 1 Điều 8 của Dự thảo đã lược bỏ cụm từ “hoặc pháp nhân thương mại” khỏi định nghĩa tội phạm; khoản 2 Điều 2 được viết lại thành “Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội được quy định tại Điều 79 khi đủ điều kiện theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật này”; và điểm a khoản 2 Điều 3 xác lập: “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại được xác định trên cơ sở hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện với danh nghĩa của pháp nhân thương mại đó”. Như vậy, pháp nhân thương mại (PNTM) không còn được quan niệm là chủ thể của tội phạm, mà là chủ thể chịu TNHS phái sinh. Đây chính là sự thể chế hóa trực tiếp yêu cầu phân định rõ trách nhiệm của pháp nhân với trách nhiệm của cá nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW. Song song đó, Điều 79 mở rộng phạm vi chịu TNHS của PNTM từ 33 tội danh lên 57 tội danh.
1.2. Lượng hóa lại ngưỡng hình sự
Thay đổi dễ nhận thấy nhất và cũng là thay đổi có tác động thực tiễn rộng nhất của Chương XVII, là việc điều chỉnh đồng loạt các mức định lượng bằng tiền. Khảo sát toàn văn Chương XVII của Dự thảo cho thấy, có 543 cặp số tiền được sửa đổi, trong đó, 517 cặp (chiếm 95,2%) được nâng lên đúng gấp hai lần so với mức hiện hành[3]. Đây không phải là những điều chỉnh ngẫu nhiên, mà là một cuộc “định giá lại” có hệ thống, áp dụng thống nhất cho cả ngưỡng cấu thành tội phạm cơ bản, ngưỡng chuyển khung hình phạt lẫn mức phạt tiền với tư cách hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Minh họa rõ nhất là tội buôn lậu (Điều 170). Ngưỡng cấu thành cơ bản nâng từ “từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng” lên “từ 300.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng”; ngưỡng của khoản 4 nâng lên thành từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng; mức phạt tiền tại khoản 1 nâng từ “từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng” lên “từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng”. Cùng logic ấy, tội trốn thuế (Điều 183) nâng ngưỡng cấu thành từ 100.000.000 đồng, lên 200.000.000 đồng và ngưỡng khoản 3 từ 1.000.000.000 đồng, lên 2.000.000.000 đồng; các tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản công gây thất thoát, lãng phí (Điều 204), vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 205), vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 207), thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 208) đều nâng ngưỡng khởi điểm từ 100.000.000 đồng lên 200.000.000 đồng và ngưỡng khung cao nhất từ 1.000.000.000 đồng lên 2.000.000.000 đồng. Riêng tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 206) nâng ngưỡng khởi điểm từ 100.000.000 đồng lên 300.000.000 đồng và khung cao nhất từ 1.000.000.000 đồng lên 3.000.000.000 đồng.
Ý nghĩa của cuộc điều chỉnh này vượt xa một phép nhân số học. Thứ nhất, nó khôi phục giá trị thực của các ngưỡng định lượng vốn được ấn định từ năm 2015 và đã bị bào mòn đáng kể sau một thập niên. Thứ hai, quan trọng hơn, nó dịch chuyển một khối lượng lớn hành vi vi phạm ra khỏi vùng hình sự, đưa về vùng xử phạt vi phạm hành chính - đúng với tinh thần “ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh tế, hành chính trước”. Đây là hình thức phi hình sự hóa bằng kỹ thuật định lượng, ít gây xáo trộn hệ thống hơn so với việc bãi bỏ tội danh, nhưng hiệu quả thực tế lại rất lớn.
Song hành với việc nâng ngưỡng, Dự thảo còn giảm mức cao nhất của khung hình phạt ở một số trường hợp. Khoản 3 Điều 170 hạ mức cao nhất từ 15 năm tù xuống 10 năm tù, qua đó, chuyển trường hợp phạm tội này từ tội phạm rất nghiêm trọng sang một vị trí thấp hơn trên thang phân loại tại Điều 9 - kéo theo hệ quả dây chuyền về thời hiệu truy cứu TNHS, điều kiện hưởng án treo và điều kiện xóa án tích.
1.3. Cơ chế “chuộc tội”
Điểm đột phá nhất của Dự thảo và cũng là trọng tâm phân tích của bài viết, là việc thiết lập một kiến trúc khoan hồng ba tầng, gắn với mức độ khắc phục hậu quả. Ba tầng này vận hành nối tiếp nhau theo tiến trình tố tụng, tạo thành cái có thể gọi là “thang bậc chuộc lỗi” của người phạm tội kinh tế.
Tầng thứ nhất - tạm hoãn truy cứu TNHS (Điều 31). Đây là chế định hoàn toàn mới, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Khoản 1 Điều 31 quy định người phạm tội “có thể được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả” khi có đủ ba điều kiện: một là, hành vi gây thiệt hại về kinh tế, nhưng vì lợi ích chung; hai là, không tham nhũng; ba là, các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số “đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và bảo đảm tính khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh”. Khoản 2 ấn định thời hạn tạm hoãn không quá 02 năm, trường hợp cần thiết, có thể gia hạn một lần, nhưng không quá 01 năm. Để bảo đảm cơ chế này không trở thành con đường trốn tránh trách nhiệm bằng cách chờ hết thời hiệu, khoản 3 Điều 29 quy định: “Không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với thời gian người phạm tội được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”. Theo lý giải của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ chế này hướng tới nhóm tội danh thuộc Chương XVII với khoảng 50 tội về kinh tế[4].
Tầng thứ hai - miễn TNHS (Điều 32). Dự thảo bổ sung hai căn cứ mới vào khoản 1 Điều 32. Điểm d quy định miễn TNHS đối với “Người phạm tội vì lợi ích chung; không tham nhũng; các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc gây thất thoát, lãng phí tài sản nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại”. Điểm đ là cửa ra của cơ chế tạm hoãn: “Trường hợp được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật này mà đã khắc phục xong hậu quả và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh”. Hai chế định vì vậy khớp nối thành một chu trình khép kín: tạm hoãn để khắc phục - khắc phục xong, thì được miễn.
Tầng thứ ba - miễn, giảm hình phạt. Trường hợp không hội đủ điều kiện miễn TNHS, người phạm tội vẫn còn hai lối thoát. Khoản 1 Điều 57 cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn “khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật này hoặc người phạm tội tự nguyện nhận tội, chủ động, tích cực khai báo đầy đủ hành vi phạm tội của mình và những tình tiết của vụ án mà mình biết trong giai đoạn điều tra và chấp nhận hình phạt được đề nghị”. Điều 62 tiếp tục dẫn chiếu đến khoản 1 và khoản 2 Điều 57 để xác định điều kiện miễn hình phạt. Đối với PNTM, Điều 90 giữ nguyên quy định “có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”.
Ngoài ba tầng nêu trên, tại Điều 66, đoạn 2 khoản 1 duy trì quy định người bị kết án tù chung thân về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ “chỉ có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn” - tỷ lệ ba phần tư vốn đã được Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, đã hướng dẫn khá chi tiết, kể cả trường hợp người thân thích nộp thay mà người phạm tội đã tác động hoặc không phản đối[5].
2. Sự khác biệt so với pháp luật hiện hành
2.1. Từ “khoan hồng - tình tiết” đến “khoan hồng - căn cứ”
Đối chiếu với BLHS năm 2015 (Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 của Văn phòng Quốc hội), có thể thấy một sự dịch chuyển về chất trong cách nhà làm luật khi xử lý yếu tố “khắc phục hậu quả”.
Theo pháp luật hiện hành, việc “tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” chỉ có giá trị là một tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm b khoản 1 Điều 54. Nó là một trong các tình tiết được liệt kê, được Tòa án cân nhắc cùng với những căn cứ khác theo Điều 53 và bản thân nó không đủ để thay đổi số phận pháp lý của bị cáo. Muốn được xử dưới khung, bị cáo phải có “ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 54”; muốn được miễn TNHS, thì khoản 1 Điều 29 BLHS hiện hành chỉ có hai căn cứ duy nhất là do thay đổi chính sách, pháp luật và quyết định đại xá - cả hai đều không liên quan gì đến hành vi khắc phục hậu quả của người phạm tội.
Dự thảo đảo ngược trật tự ấy. Khắc phục hậu quả từ chỗ là tình tiết để cân nhắc, nay trở thành căn cứ độc lập làm phát sinh hậu quả pháp lý xác định. Ba bước đảo ngược cụ thể như sau:
Một là, tại khoản 1 Điều 32, hai căn cứ mới - điểm d và điểm đ - đưa hành vi khắc phục hậu quả lên tầm căn cứ miễn TNHS, tức là, mức khoan hồng cao nhất mà luật hình sự có thể dành cho một người đã thực hiện hành vi phạm tội.
Hai là, Điều 31 tạo ra một không gian thời gian pháp lý hoàn toàn mới, cho phép tạm dừng tiến trình truy cứu trong tối đa 03 năm, để người phạm tội hoàn thành nghĩa vụ khắc phục. Đây là bước tiến xa nhất, vì nó không chỉ thay đổi hậu quả pháp lý, mà còn thay đổi cả trình tự vận hành của quyền công tố.
2.2. Bước tiến của kỹ thuật lập pháp
Xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, Dự thảo cho thấy ba tiến bộ đáng ghi nhận.
Thứ nhất, chuyển từ mô tả hành vi sang định lượng hậu quả. Điển hình là tội trốn thuế. Khoản 1 Điều 200 BLHS năm 2015 liệt kê chín nhóm hành vi từ điểm a đến điểm i - từ “không nộp hồ sơ đăng ký thuế”, “không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp” đến “câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa”. Dự thảo bãi bỏ toàn bộ chín điểm này, thay bằng một mệnh đề duy nhất: “Người nào trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng...”. Kỹ thuật này làm cho điều luật gọn hơn, tránh được tình trạng liệt kê không đầy đủ và loại bỏ nguy cơ bỏ lọt các phương thức trốn thuế mới phát sinh. Tuy nhiên, hệ quả kèm theo là, điều luật hình sự trở nên phụ thuộc hoàn toàn vào khái niệm “trốn thuế” của pháp luật quản lý thuế - một dạng quy phạm viện dẫn đòi hỏi phải được kiểm soát chặt chẽ về tính ổn định.
Thứ hai, chuẩn hóa cách diễn đạt về TNHS của PNTM. Toàn bộ các điều luật trong Chương XVII đều thay công thức cũ “Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau”bằng công thức mới “Pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự về tội này, thì bị phạt như sau”; đồng thời, thay các cụm từ “Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản...” bằng “Trường hợp quy định tại khoản...”. Đây không phải là chỉnh sửa câu chữ thuần túy, mà là hệ quả tất yếu của việc PNTM không còn là chủ thể của tội phạm theo Điều 8.
Thứ ba, bổ sung các dấu hiệu định khung phản ánh phương thức phạm tội hiện đại. Điểm đ khoản 1 Điều 86 bổ sung tình tiết tăng nặng TNHS đối với PNTM: “Thành lập, sử dụng hoặc tổ chức lại pháp nhân, tổ chức; thực hiện giao dịch, chuyển dịch tài sản hoặc thiết lập cơ cấu sở hữu, kiểm soát nhằm che giấu hành vi phạm tội, tài sản do phạm tội mà có hoặc trốn tránh trách nhiệm”; điểm c bổ sung tình tiết “Lợi dụng quyền sở hữu, quyền chi phối đối với doanh nghiệp, sử dụng hệ thống chi nhánh, đơn vị phụ thuộc, công ty con, doanh nghiệp liên kết, đại lý, tổ chức hoặc cá nhân trung gian để thực hiện hoặc che giấu tội phạm”. Đặc biệt, điểm g bổ sung tình tiết tăng nặng “Không khắc phục hậu quả” - một quy định mang tính đối xứng với chính sách khoan hồng: đã khoan hồng cho người khắc phục, thì phải nghiêm khắc hơn với người có điều kiện mà không khắc phục.
Cần ghi nhận thêm rằng, Điều 49 và Điều 50 của Dự thảo đã thay cụm từ “tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” bằng “tịch thu vật, tài sản trực tiếp liên quan đến tội phạm”, đồng thời, bổ sung đối tượng tịch thu là dữ liệu số trái phép và các biện pháp buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP, thu hồi khóa mật mã. Việc mở rộng từ tiền sang tài sản tuy đơn giản về câu chữ, nhưng có ý nghĩa thực tiễn không nhỏ trong bối cảnh tài sản do phạm tội mà có ngày càng được chuyển hóa sang các hình thái phi tiền tệ.
2.3. Điều đã lượng hóa và điều chưa lượng hóa
Tuy nhiên, đây cũng chính là nơi bộc lộ hạn chế lớn nhất của Dự thảo. Nếu so sánh mức độ chính xác giữa hai vế của chính sách hình sự, có thể thấy một sự bất đối xứng rõ rệt.
Ở vế định tội và định khung, Dự thảo lượng hóa đến từng đồng: 543 mức tiền được ấn định lại, mỗi khung hình phạt đều có ranh giới số học minh bạch. Ở vế khoan hồng, ngược lại, hầu như không có một con số nào. Điểm d khoản 1 Điều 32 chỉ quy định “đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại”; điểm đ quy định “đã khắc phục xong hậu quả”. Điều 31 đặt điều kiện “vì lợi ích chung”, “mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh” - những khái niệm mang tính đánh giá, không có tiêu chí đo lường.
Sự tương phản càng nổi bật khi đối chiếu với chính đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Dự thảo, nơi nhà làm luật đã lượng hóa rất rành mạch: “chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ”. Câu hỏi đặt ra là: nếu đối với tội phạm tham nhũng - nhóm tội được xử lý nghiêm khắc nhất - nhà làm luật đã xác định được tỷ lệ ba phần tư, thì tại sao đối với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, một tỷ lệ tương tự lại không được xác lập?
Yêu cầu đặt ra cho lần sửa đổi này là lượng hóa cụ thể tỷ lệ bồi thường, khắc phục hậu quả để làm căn cứ chuyển khung hình phạt hoặc chuyển từ TNHS sang xử lý hành chính, dân sự. Ở điểm này, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, Dự thảo mới đi được nửa chặng đường: đã lượng hóa rất tốt phần “tội”, nhưng chưa lượng hóa được phần “chuộc”.
3. Vướng mắc và tác động qua thực tiễn xét xử
3.1. Ranh giới mong manh giữa vi phạm dân sự, kinh tế và tội phạm hình sự
Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, ranh giới giữa vi phạm hợp đồng, vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực kinh tế nhiều khi chỉ cách nhau một kết luận giám định hoặc một chứng thư thẩm định giá. Bốn lĩnh vực bộc lộ rõ nhất sự mong manh này.
(i) Lĩnh vực đấu thầu: Điều 207 quy định 8 nhóm hành vi, trong đó có những hành vi mà đường biên với vi phạm hành chính rất khó xác định, chẳng hạn “Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, lựa chọn nhà đầu tư” tại điểm đ khoản 1. Cùng một hành vi “cài cắm” tiêu chí kỹ thuật có lợi cho một nhà thầu, nếu chưa gây thiệt hại đủ ngưỡng, thì chỉ là vi phạm hành chính theo pháp luật về đấu thầu, nhưng nếu vượt ngưỡng, thì cấu thành tội phạm với mức hình phạt có thể lên đến 20 năm tù. Vấn đề nằm ở chỗ ranh giới ấy phụ thuộc gần như hoàn toàn vào con số thiệt hại - vốn là kết quả của hoạt động định giá.
Đáng lưu ý hơn, Dự thảo ngày 22/9/2026 bổ sung tại điểm e khoản 2 Điều 207 tình tiết định khung “Trị giá gói thầu từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng” và tại khoản 3 tình tiết “trị giá gói thầu 5.000.000.000 đồng trở lên” - hai tình tiết hoàn toàn mới, không có trong BLHS năm 2015. Về mặt kỹ thuật, đây là một bước đi ngược với logic chung của toàn bộ lần sửa đổi. Trị giá gói thầu không phải là thước đo thiệt hại, mà là thước đo quy mô giao dịch. Với quy định này, một hành vi vi phạm quy định về đấu thầu tại gói thầu trị giá 05 tỷ đồng có thể bị xử lý theo khoản 3 với mức hình phạt từ 10 năm đến 20 năm tù, ngay cả khi thiệt hại thực tế bằng không hoặc đã được khắc phục hoàn toàn. Điều đó mâu thuẫn trực tiếp với định hướng ưu tiên biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế và coi kết quả khắc phục là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo. Theo Dự thảo mới nhất ngày 09/10/2026, Ban soạn thảo đã bỏ hoàn toàn điểm e khoản 2 Điều 207.
(ii) Lĩnh vực ngân hàng: Điều 189 liệt kê các hành vi như “Cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật”, “Cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi định giá để cấp tín dụng đối với trường hợp phải có tài sản bảo đảm”. Trong hoạt động tín dụng, việc thẩm định tài sản bảo đảm luôn chứa đựng yếu tố dự báo; chênh lệch giữa giá trị thẩm định tại thời điểm cấp tín dụng và giá trị xử lý tài sản tại thời điểm khởi tố có thể rất lớn, mà không nhất thiết xuất phát từ lỗi cố ý. Việc phân định giữa rủi ro tín dụng thông thường, sai sót nghiệp vụ và hành vi “cố ý nâng khống” đòi hỏi năng lực chuyên môn rất cao của cơ quan tiến hành tố tụng. Dự thảo có bước tiến khi bổ sung căn cứ “thu lợi bất chính”, bên cạnh căn cứ “gây thiệt hại về tài sản” tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 189, giúp xử lý được những trường hợp người phạm tội thu lợi lớn, nhưng thiệt hại khó định lượng.
(iii) Lĩnh vực chứng khoán: Điểm e khoản 1 Điều 195 quy định hành vi “Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán” - một quy định quét mang tính mở. Trên thị trường, việc phân biệt giữa chiến lược giao dịch hợp pháp có quy mô lớn với hành vi thao túng đòi hỏi phải chứng minh được yếu tố chủ quan “nhằm” tạo cung cầu giả tạo, trong khi bằng chứng về ý chí thường chỉ có thể suy đoán từ mô hình giao dịch.
(iv) Lĩnh vực đất đai: Điều 214 sử dụng đồng thời hai loại tiêu chí định lượng là diện tích và giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền. Trong khi diện tích là đại lượng khách quan, thì “giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền” lại phụ thuộc vào thời điểm và phương pháp định giá. Cùng một thửa đất, định giá theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, hay theo giá thị trường, định giá tại thời điểm giao đất, hay tại thời điểm khởi tố, có thể cho ra kết quả chênh lệch nhiều lần, dẫn đến sự khác biệt về khung hình phạt được áp dụng.
3.2. Điểm nghẽn trong giám định tư pháp và định giá tài sản
Nếu ranh giới hình sự phụ thuộc vào con số, thì chất lượng của con số quyết định chất lượng của công lý. Đây chính là điểm nghẽn cố hữu trong các vụ án kinh tế lớn.
Thứ nhất là vấn đề thời điểm định giá. Pháp luật hiện hành chưa quy định thống nhất việc xác định thiệt hại phải căn cứ vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, thời điểm hậu quả xảy ra, hay thời điểm khởi tố. Trong các vụ án kéo dài nhiều năm, liên quan đến bất động sản hoặc cổ phiếu, sự khác biệt về thời điểm có thể làm thay đổi hoàn toàn khung hình phạt được áp dụng.
Thứ hai là vấn đề tài sản đặc thù. Đối với những tài sản không được mua bán phổ biến trên thị trường - quyền sở hữu trí tuệ, cổ phần của công ty chưa niêm yết, dự án dở dang, tài sản mã hóa - các phương pháp định giá hiện hành đều gặp khó khăn về dữ liệu so sánh[6]. Việc bổ sung Điều 190 về tài sản mã hóa sẽ càng làm nổi bật vấn đề này, bởi giá trị của loại tài sản này biến động rất mạnh và chưa có khung pháp lý định giá tương ứng.
Thứ ba là vấn đề năng lực và trách nhiệm. Thực tiễn ghi nhận tình trạng cơ quan, tổ chức được trưng cầu giám định từ chối hoặc kéo dài việc thực hiện; kết luận giám định chung chung, không trả lời trực diện câu hỏi của cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc trả lời vượt quá phạm vi chuyên môn. Hệ quả là, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ để chờ kết luận, làm kéo dài thời hạn tố tụng và làm tài sản bị kê biên tiếp tục xuống cấp, giảm giá trị. Trong một chính sách lấy khắc phục hậu quả làm trục, sự chậm trễ này gây tổn thất kép: vừa làm giảm giá trị tài sản có thể thu hồi, vừa làm mất đi cơ hội để doanh nghiệp chủ động sửa sai khi còn khả năng.
3.3. Điểm nghẽn trong thi hành án dân sự và thu hồi tài sản
Công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế đã có chuyển biến tích cực. Theo Bộ Tư pháp, năm 2025 kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế đạt hơn 27.400 tỷ đồng, tăng hơn 5.230 tỷ đồng so với năm 2024; các cơ quan thi hành án dân sự đã tổ chức thi hành xong hơn 576.000 việc, đạt tỷ lệ 84,27%[7]. Quý I năm 2026, kết quả thu hồi tiếp tục đạt hơn 6.500 tỷ đồng với hơn 2.000 việc thi hành xong[8].
Tuy vậy, so với tổng số tiền phải thi hành trong các đại án kinh tế, tỷ lệ thu hồi vẫn chưa đạt kỳ vọng. Nguyên nhân có thể quy về bốn nhóm.
Một là, tài sản bị tẩu tán trước khi có biện pháp ngăn chặn. Trong nhiều vụ án, từ thời điểm hành vi phạm tội hoàn thành đến thời điểm khởi tố có độ trễ nhiều năm, đủ để tài sản được chuyển dịch qua nhiều lớp trung gian, đứng tên người thân thích hoặc pháp nhân do bị can chi phối.
Hai là, tài sản kê biên có tình trạng pháp lý phức tạp. Bất động sản chưa hoàn thiện thủ tục, dự án đang thế chấp tại tổ chức tín dụng, cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng - tất cả đều làm cho việc xử lý tài sản kéo dài, chi phí cao và giá trị thu hồi thực tế thấp hơn nhiều so với giá trị ghi nhận tại thời điểm kê biên.
Ba là, sự thiếu đồng bộ giữa giai đoạn tố tụng và giai đoạn thi hành án. Việc kê biên đôi khi không tương xứng với thiệt hại - hoặc quá rộng, làm đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn khả năng phục hồi, hoặc quá hẹp, không bảo đảm nghĩa vụ thi hành. Chính Nghị quyết số 68-NQ/TW đã yêu cầu bảo đảm giá trị niêm phong, kê biên, tạm giữ, phong tỏa tương ứng với dự kiến hậu quả thiệt hại của vụ việc.
Bốn là, pháp luật hiện hành chưa có cơ chế thu hồi tài sản không dựa trên bản án kết tội. Khi người phạm tội chết, bỏ trốn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, vụ án phải đình chỉ và tài sản đã bị chiếm đoạt trên thực tế không có căn cứ tố tụng để xử lý.
3.4. Những rủi ro mới phát sinh từ chính các quy định của Dự thảo
Bên cạnh các vướng mắc kế thừa, cần thẳng thắn nhận diện ba rủi ro mới mà bản thân các quy định khoan hồng của Dự thảo có thể tạo ra.
Rủi ro thứ nhất: tính chất mệnh lệnh của khoản 1 Điều 32. Kỹ thuật lập pháp của Điều 32 phân định rất rõ hai nhóm: khoản 1 dùng công thức “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự” - mệnh lệnh bắt buộc; khoản 2 dùng công thức “Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự” - trao quyền tùy nghi cho cơ quan tiến hành tố tụng. Hai căn cứ mới tại điểm d và điểm đ được đặt ở khoản 1, tức là thuộc nhóm bắt buộc. Điều này có nghĩa: khi các điều kiện được xác định là đã thỏa mãn, cơ quan tiến hành tố tụng không còn quyền cân nhắc, mà phải miễn TNHS. Trong khi đó, các điều kiện như: “vì lợi ích chung”, “mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh” lại là những phạm trù đánh giá, không có tiêu chí đo lường. Sự kết hợp giữa một hệ quả pháp lý cứng với những điều kiện mềm là một cấu trúc quy phạm tiềm ẩn rủi ro áp dụng không thống nhất giữa các địa phương, các cấp tố tụng.
Rủi ro thứ hai: thiếu kiểm soát tư pháp đối với cơ chế tạm hoãn. Điều 31 không xác định cơ quan nào có thẩm quyền quyết định tạm hoãn, không quy định thủ tục, không đặt ra yêu cầu về công khai, cũng không quy định cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết trong thời gian tạm hoãn. Khoản 2 chỉ nhắc đến “cơ quan có thẩm quyền” một cách chung chung. Đây là khoảng trống lớn, bởi một quyết định tạm hoãn truy cứu TNHS trong thời hạn tới 03 năm là quyết định có tác động sâu sắc đến quyền công tố, đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và đến niềm tin của xã hội vào tính bình đẳng trước pháp luật. Nếu quyết định ấy được ban hành mà không qua kiểm soát tư pháp và không được công khai, nguy cơ hình thành cơ chế thương lượng TNHS phi chính thức là có thật.
Rủi ro thứ ba: khoảng trống về nội hàm “khắc phục toàn bộ hậu quả”. Trong các vụ án kinh tế, hậu quả không chỉ là thiệt hại vật chất trực tiếp. Nó còn bao gồm khoản thu lợi bất chính, thiệt hại gián tiếp của bên thứ ba, chi phí khắc phục và những tổn thất phi vật chất như suy giảm niềm tin thị trường. Nếu “khắc phục toàn bộ hậu quả” chỉ được hiểu là hoàn trả khoản thiệt hại được ghi trong kết luận giám định, thì người phạm tội hoàn toàn có thể được miễn TNHS, trong khi vẫn giữ lại phần lớn lợi ích bất chính đã thu được - một kết quả đi ngược lại chính mục tiêu thu hồi triệt để tài sản mà lần sửa đổi này hướng tới.
4. Kiến nghị hoàn thiện
4.1. Lượng hóa tỷ lệ khắc phục hậu quả thành thang bậc pháp lý minh bạch
Đây là kiến nghị có tính then chốt. Đề nghị bổ sung vào Phần thứ nhất của Dự thảo BLHS (sửa đổi) một điều luật riêng - có thể đặt tại Điều 54a, ngay sau các quy định về tình tiết giảm nhẹ - quy định hệ quả pháp lý của việc khắc phục hậu quả trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, theo ba bậc gắn với cả mức độ và thời điểm khắc phục:
Bậc thứ nhất: người phạm tội đã tự nguyện nộp lại toàn bộ khoản thu lợi bất chính và bồi thường toàn bộ thiệt hại trước khi có quyết định khởi tố bị can, thì được xem xét miễn TNHS theo điểm d khoản 1 Điều 32.
Bậc thứ hai: đã khắc phục được ít nhất ba phần tư giá trị thiệt hại và toàn bộ khoản thu lợi bất chính trước khi kết thúc điều tra, thì có thể được miễn hình phạt theo Điều 62.
Bậc thứ ba: đã khắc phục được ít nhất một phần hai giá trị thiệt hại trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, thì được áp dụng khoản 1 Điều 57 để quyết định hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
Việc lựa chọn tỷ lệ ba phần tư và một phần hai không phải là tùy tiện, mà bảo đảm sự tương thích nội tại với chính đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Dự thảo và với hướng dẫn đã có của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cách thiết kế theo thang bậc gắn với tiến độ khắc phục còn tạo ra một động lực kinh tế rất rõ ràng: khắc phục càng sớm, mức khoan hồng càng lớn - đúng với yêu cầu về biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế “chủ động, kịp thời và toàn diện”.
Đồng thời, đề nghị bổ sung một khoản giải thích rằng “khắc phục toàn bộ hậu quả” bao gồm cả việc nộp lại toàn bộ khoản thu lợi bất chính, để loại trừ khả năng người phạm tội được khoan hồng mà vẫn giữ lại lợi ích từ hành vi phạm tội.
4.2. Thiết kế lại Điều 31 theo mô hình có kiểm soát tư pháp
Cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS về bản chất là một dạng thỏa thuận hoãn truy tố - mô hình đã được nhiều quốc gia áp dụng. Kinh nghiệm của Vương quốc Anh rất đáng tham khảo. Theo Crime and Courts Act 2013 (Luật Tội phạm và Tòa án năm 2013), Phụ lục 17, cơ chế Deferred Prosecution Agreement (Thỏa thuận hoãn truy tố) chỉ được áp dụng đối với pháp nhân, do những Công tố viên được chỉ định đề xuất và phải qua hai lần phê chuẩn của Tòa án Hoàng gia: một lần ở giai đoạn sơ bộ và một lần ở giai đoạn cuối. Tại cả hai giai đoạn, Tòa án phải xác định thỏa thuận là fair, reasonable and proportionate (công bằng, hợp lý và tương xứng) và in the interests of justice (phù hợp với lợi ích của công lý), đồng thời có quyền bác bỏ thỏa thuận[9]. Chính sự phê chuẩn công khai của Tòa án là điều phân biệt mô hình Anh với mô hình Hoa Kỳ - nơi thỏa thuận chủ yếu do Công tố viên đàm phán với sự tham gia rất hạn chế của Tòa án và vì thế thường xuyên bị phê phán về tính minh bạch.
Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc, đề nghị bổ sung vào Điều 31 các nội dung sau:
Thứ nhất, xác định rõ thẩm quyền quyết định tạm hoãn thuộc Viện kiểm sát và phải được Tòa án có thẩm quyền phê chuẩn. Cơ chế phê chuẩn này cần được quy định đồng bộ trong Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đang được xem xét chỉnh lý song song.
Thứ hai, quy định nghĩa vụ công khai quyết định tạm hoãn cùng với phương án khắc phục hậu quả đã cam kết, trừ các nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật kinh doanh chính đáng.
Thứ ba, bổ sung điều kiện bảo đảm: người được tạm hoãn phải nộp một khoản tiền bảo đảm, hoặc có tài sản bảo đảm tương ứng với nghĩa vụ khắc phục đã cam kết.
Thứ tư, quy định rõ hậu quả pháp lý của việc không thực hiện đúng cam kết: đương nhiên chấm dứt tạm hoãn, khôi phục tiến trình truy cứu và việc không thực hiện cam kết được coi là tình tiết cần cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Thứ năm, cân nhắc thu hẹp phạm vi chủ thể được áp dụng Điều 31, ưu tiên áp dụng cho PNTM và người quản lý doanh nghiệp, không áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước - nhằm giữ vững nguyên tắc không khoan nhượng với tham nhũng, vốn đã được thể hiện ngay trong điều kiện “không tham nhũng” tại điểm b khoản 1 Điều 31.
4.3. Chuyển hai căn cứ miễn trách nhiệm hình sự mới sang khoản 2 Điều 32
Đề nghị chuyển điểm d và điểm đ từ khoản 1 sang khoản 2 Điều 32, tức là chuyển từ căn cứ bắt buộc miễn TNHS sang căn cứ tùy nghi. Lý do là các điều kiện quy định tại hai điểm này mang tính định tính, đòi hỏi sự đánh giá tổng hợp về động cơ, bối cảnh và hiệu quả thực tế - những nội dung chỉ có thể được xác định thông qua hoạt động chứng minh trong tố tụng chứ không thể xác lập một cách máy móc.
Việc đặt hai căn cứ này ở khoản 2 không làm suy giảm chính sách khoan hồng, bởi bản thân khoản 2 vẫn cho phép miễn TNHS ở mọi giai đoạn tố tụng, từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử. Nhưng nó bảo toàn được quyền và trách nhiệm đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời, buộc mỗi quyết định miễn TNHS phải được lập luận trên hồ sơ - qua đó, tạo cơ sở cho hoạt động kiểm sát, giám sát và khi cần thiết, cho việc khiếu nại, kháng nghị.
Đồng thời, đề nghị bổ sung vào Điều 32 một khoản quy định nghĩa vụ nêu rõ lý do trong quyết định miễn TNHS, tương tự cách khoản 3 Điều 57 đã yêu cầu “lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.
4.4. Rà soát các dấu hiệu định khung không phản ánh thiệt hại
Đề nghị bãi bỏ điểm e khoản 2 Điều 207 và phần quy định về trị giá gói thầu tại khoản 3 Điều 207, hoặc nếu giữ lại, thì phải gắn với điều kiện về hậu quả. Như đã phân tích, trị giá gói thầu là thước đo quy mô giao dịch, chứ không phải thước đo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Việc lấy trị giá gói thầu làm căn cứ chuyển sang khung hình phạt từ 10 năm đến 20 năm tù, độc lập với thiệt hại thực tế, sẽ tạo ra một vùng mà chính sách khuyến khích khắc phục hậu quả không thể phát huy tác dụng: người phạm tội dù đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, vẫn phải đối diện khung hình phạt của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Phương án dung hòa là, sửa điểm e khoản 2 Điều 207 theo hướng: “Trị giá gói thầu từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng và hậu quả chưa được khắc phục”. Cách quy định này vừa giữ được mục đích của cơ quan soạn thảo về việc xử lý nghiêm các vi phạm tại những gói thầu có quy mô lớn, vừa bảo đảm tính nhất quán của chính sách hình sự. Và Dự thảo mới nhất ngày 09/10/2026 đã bãi bỏ hoàn toàn điểm e khoản 2 Điều 207 theo ý kiến trên của tác giả.
Trên tinh thần đó, chúng tôi cũng đề nghị rà soát tổng thể Chương XVII để bảo đảm mọi dấu hiệu định khung tăng nặng đều phản ánh được hoặc mức độ thiệt hại, hoặc mức độ lỗi, hoặc phương thức thực hiện tội phạm, chứ không phải quy mô của giao dịch kinh tế mà hành vi phạm tội gắn với.
4.5. Nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc các cơ chế thu hồi tài sản hiện đại
Chính sách khoan hồng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm khả năng thu hồi triệt để tài sản. Ở chiều ngược lại, nếu Nhà nước không có công cụ hữu hiệu để truy tìm và thu hồi tài sản, thì khoan hồng có nguy cơ trở thành một sự nhân nhượng đơn phương. Việt Nam đã là thành viên Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption) từ năm 2009, trong đó, Chương V dành riêng cho vấn đề thu hồi tài sản. Trên cơ sở đó, đề nghị nghiên cứu ba nhóm nội dung.
Thứ nhất, cơ chế Non-Conviction Based Confiscation (Tịch thu tài sản không dựa trên bản án kết tội). Điểm c khoản 1 Điều 54 của Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên xem xét áp dụng biện pháp cho phép tịch thu tài sản có nguồn gốc từ tội phạm mà không cần có bản án hình sự, trong các trường hợp người phạm tội chết, bỏ trốn, vắng mặt hoặc vì lý do khác không thể bị truy cứu. Đây chính là công cụ mà thực tiễn thi hành án dân sự Việt Nam đang thiếu. Việc nghiên cứu cơ chế này cần được đặt trong khuôn khổ BLTTHS (sửa đổi), theo hướng xây dựng một thủ tục tố tụng đặc biệt về tài sản, độc lập tương đối với thủ tục xác định TNHS của con người, với chuẩn chứng minh phù hợp với tính chất dân sự của thủ tục này và bảo đảm đầy đủ quyền tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thứ hai, cơ chế Unexplained Wealth Orders (Lệnh giải trình tài sản không rõ nguồn gốc). Cơ chế này được Vương quốc Anh đưa vào áp dụng từ ngày 31/01/2018 theo Criminal Finances Act 2017 (Luật Tài chính hình sự năm 2017), bổ sung các quy định tương ứng vào Proceeds of Crime Act 2002 (Luật về tài sản do phạm tội mà có năm 2002). Theo đó, cơ quan thực thi được chỉ định có thể yêu cầu Tòa án ra lệnh buộc một người giải trình về nguồn gốc tài sản có giá trị từ 50.000 bảng Anh trở lên, khi có reasonable grounds for suspecting (căn cứ hợp lý để nghi ngờ) rằng, thu nhập hợp pháp của người đó không đủ để có được tài sản ấy. Nếu người bị yêu cầu không giải trình được, mà không có lý do chính đáng, tài sản được suy đoán là tài sản có thể bị thu hồi trong thủ tục thu hồi dân sự.
Tuy nhiên, cần tiếp thu cơ chế này một cách hết sức thận trọng, vì hai lý do. Về mặt hiệu quả thực tế, thống kê cho thấy, tính đến tháng 02/2022, Vương quốc Anh mới chỉ ban hành được 09 lệnh giải trình tài sản không rõ nguồn gốc, liên quan đến 04 vụ việc, với tổng giá trị tài sản ước tính khoảng 143,2 triệu bảng Anh; và không có lệnh nào được ban hành sau năm 2019[10]. Về mặt nguyên tắc, cơ chế này chứa đựng yếu tố dịch chuyển nghĩa vụ chứng minh, có thể xung đột với nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và được Nghị quyết số 68-NQ/TW tái khẳng định. Vì vậy, nếu nghiên cứu áp dụng, cần đặt cơ chế này trong khuôn khổ thủ tục dân sự về tài sản, gắn với việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập, chứ không đưa vào thủ tục tố tụng hình sự.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế hỗ trợ. Cả hai cơ chế trên đều chỉ vận hành được trên nền một hệ thống dữ liệu minh bạch. Do đó, đề nghị đẩy nhanh việc liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, chứng khoán và tài khoản ngân hàng; đồng thời, hoàn thiện quy định về chủ sở hữu hưởng lợi - khái niệm đã được Dự thảo sử dụng tại khoản 7 Điều 345 và khoản 7 Điều 346, nhưng chưa có cơ chế nhận diện đầy đủ trong pháp luật chuyên ngành.
Kết luận
Nhóm quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) thể hiện một chuyển hướng chính sách hình sự đúng đắn và kịp thời. Việc nâng gấp đôi phần lớn các ngưỡng định lượng, xóa bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình đối với các tội danh kinh tế, chuẩn hóa mô hình TNHS của PNTM và xác lập kiến trúc khoan hồng ba tầng gắn với khắc phục hậu quả là những bước tiến thực chất, thể chế hóa được tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Tuy nhiên, một chính sách nhân văn chỉ trở thành công lý, khi nó được thiết kế đủ chặt chẽ để không bị lạm dụng. Hạn chế lớn nhất của Dự thảo hiện nay là sự bất đối xứng giữa một vế được lượng hóa đến từng đồng - vế định tội, định khung - và một vế gần như để ngỏ cho đánh giá chủ quan - vế khoan hồng. Khắc phục sự bất đối xứng ấy bằng cách lượng hóa tỷ lệ khắc phục hậu quả thành thang bậc pháp lý minh bạch, đặt cơ chế tạm hoãn truy cứu TNHS dưới sự kiểm soát của Tòa án và rà soát các dấu hiệu định khung không phản ánh thiệt hại - đó là ba việc cần làm để chính sách khoan hồng không trở thành kẽ hở.
Xử lý hình sự nghiêm minh và bảo vệ sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế không phải là hai mục tiêu đối lập. Pháp luật hình sự trong lĩnh vực kinh tế không tồn tại để trừng phạt sự thất bại trong kinh doanh, mà để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế và bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của mọi chủ thể. Một khung pháp lý minh bạch về ranh giới, rành mạch về hệ quả và nghiêm khắc về thu hồi tài sản, sẽ đồng thời đạt được cả hai mục tiêu: giữ vững nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và mở ra một con đường thực chất để doanh nhân có sai phạm chủ động sửa sai, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
[1] Xem: Trịnh Xuân Hùng, Một số nội dung đáng chú ý của dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 8 năm 2026), https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/print/15074/mot-so-noi-dung-dang-chu-y-cua-du-thao-bo-luat-hinh-su-sua-doi-trinh-ky-hop-khong-thuong-le-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi-thang-8-nam-2026, truy cập ngày 09/9/2026.
[2] Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, mục 2.3.
[3] Số liệu do tác giả khảo sát, thống kê trực tiếp trên toàn văn Chương XVIII của Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026, đối chiếu với BLHSnăm 2015 (Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025).
[4] Xem: Quỳnh An, Bộ Công an lý giải đề xuất tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự với 47 tội về kinh tế, https://viettimes.vn/bo-cong-an-ly-giai-de-xuat-tam-hoan-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-voi-47-toi-ve-kinh-te-post203109.html, truy cập ngày 14/9/2026.
[5] Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, có hiệu lực từ ngày 15/02/2021.
[6] Xem thêm: Nguyễn Xuân Kỳ, Vấn đề định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Một số vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện,https://tapchitoaan.vn/van-de-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-hinh-su-mot-so-vuong-mac-bat-cap-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 14/9/2026.
[7] Bộ Tư pháp, Hội nghị triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác thi hành án dân sự năm 2026, ngày 12/12/2025.
[8] Bộ Tư pháp, Báo cáo kết quả công tác quý I năm 2026, tháng 4/2026.
[9] Crime and Courts Act 2013 (Luật Tội phạm và Tòa án năm 2013) của Vương quốc Anh, Phụ lục 17; cơ chế có hiệu lực áp dụng từ ngày 24/02/2014.
[10] House of Commons Library, Unexplained Wealth Orders (Lệnh giải trình tài sản không rõ nguồn gốc), Briefing Paper No. CBP-9098, tr.3,12.
Tài liệu tham khảo
1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 22/9/2026 và ngày 09/10/2026.
2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
3. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Trịnh Xuân Hùng, Một số nội dung đáng chú ý của dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 8 năm 2026),https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/print/15074/mot-so-noi-dung-dang-chu-y-cua-du-thao-bo-luat-hinh-su-sua-doi-trinh-ky-hop-khong-thuong-le-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi-thang-8-nam-2026, truy cập ngày 09/9/2026.
5. Quỳnh An, Bộ Công an lý giải đề xuất tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự với 47 tội về kinh tế, https://viettimes.vn/bo-cong-an-ly-giai-de-xuat-tam-hoan-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-voi-47-toi-ve-kinh-te-post203109.html, truy cập ngày 14/9/2026.
6. Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, có hiệu lực từ ngày 15/02/2021.
7. Nguyễn Xuân Kỳ, Vấn đề định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Một số vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/van-de-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-hinh-su-mot-so-vuong-mac-bat-cap-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 14/9/2026.
8. Bộ Tư pháp, Hội nghị triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác thi hành án dân sự năm 2026, ngày 12/12/2025.
9. Bộ Tư pháp, Báo cáo kết quả công tác quý I năm 2026, tháng 4/2026.
10. Crime and Courts Act 2013 (Luật Tội phạm và Tòa án năm 2013) của Vương quốc Anh, Phụ lục 17; cơ chế có hiệu lực áp dụng từ ngày 24/02/2014.
11. House of Commons Library, Unexplained Wealth Orders (Lệnh giải trình tài sản không rõ nguồn gốc), Briefing Paper No. CBP-9098.
Bài liên quan
-
Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với pháp nhân thương mại trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Improving provisions on the criminal liability and penalties for commercial legal entities in the Draft Penal Code (amended) -
Một số vấn đề về quyết định hình phạt theo quy định của Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Issues regarding sentencing according to the Draft Penal Code (amended) -
Bổ sung tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật Hình sự: Căn cứ tội phạm hóa và giới hạn can thiệp của Luật Hình sự
The introduction of new offences in the Draft Penal Code: grounds for criminalisation and the limits of intervention of criminal law -
Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Handling physical evidence in criminal cases: Issues in improving the Vietnamese criminal procedure law from the perspective of adjudication -
TANDTC đánh giá kết quả rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031
-
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Shortcomings, difficulties and proposals for amending and supplementing the Vietnamese Penal Code -
Biện pháp giám sát điện tử thay thế tạm giam: Điều kiện áp dụng, bảo đảm quyền của người bị buộc tội và cơ chế kiểm soát tư pháp
Electronic supervision as an alternative to detention: conditions for application, protection of the accused’s rights, and judicial control mechanism -
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication
Bình luận