Một số vấn đề về quyết định hình phạt theo quy định của Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Issues regarding sentencing according to the Draft Penal Code (amended)
(TCTA) - Quyết định hình phạt là một chế định quan trọng của luật hình sự, giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đề xuất nhiều sửa đổi, bổ sung đối với các điều luật thuộc chương quyết định hình phạt. Bài viết tập trung phân tích chuyên sâu các nhóm vấn đề căn bản đang được sửa đổi trong Dự thảo; trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử, bài viết kiến nghị các giải pháp sửa đổi, hoàn thiện cụ thể, nhằm bảo đảm tính logic, tính khả thi và thống nhất của hệ thống luật hình sự.
Đặt vấn đề
Quyết định hình phạt (QĐHP) là bước tiếp theo của hoạt động định tội danh và là việc Tòa án (Hội đồng xét xử) lựa chọn loại và mức hình phạt (bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) phù hợp với các quy định pháp luật tại một điều luật cụ thể thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự (BLHS) đối với người coi là phạm tội. QĐHP là một chế định của Luật hình sự, bao gồm những quy phạm pháp luật được thể hiện trong các điều luật của BLHS. Như vậy, quy định của BLHS về QĐHP là cơ sở pháp lý cho việc QĐHP đối với mỗi người phạm tội cụ thể. Hiện nay, Nhà nước đang nghiên cứu ban hành BLHS mới thay thế BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Góp phần hoàn thiện hơn, bài viết sẽ đi sâu phân tích và đề xuất một số vấn đề về QĐHP trong bản Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo).
1. Về căn cứ quyết định hình phạt theo Điều 53 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Dự thảo, thì “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là một trong những căn cứ QĐHP và nhiệm vụ bắt buộc của Tòa án khi QĐHP, là phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện bởi những đại lượng nào? Hay nói cách khác, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là cân nhắc những đại lượng hay yếu tố nào? Theo chúng tôi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thể hiện ở quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị hành vi phạm tội xâm phạm, đối tượng tác động của tội phạm, công cụ, phương tiện, phương thức, thủ đoạn phạm tội và hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Trong đó, quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị hành vi phạm tội xâm phạm và các đối tượng tác động của tội phạm đã được BLHS quy định thành từng nhóm tội phạm và từng tội phạm cụ thể. Nói cách khác, khách thể của tội phạm (bao gồm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và đối tượng tác động của tội phạm) đã được cơ quan ban hành BLHS sử dụng như một căn cứ, để chia tội phạm thành các nhóm và quy định là các chương tội phạm với các tội phạm cụ thể thuộc Phần các tội phạm trong BLHS hiện hành. Ví dụ: quan hệ sở hữu tài sản và đối tượng tác động là tài sản, thì được BLHS quy định là “Các tội xâm phạm sở hữu”. Còn phương thức, thủ đoạn phạm tội với ý nghĩa là phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã được BLHS quy định là từng tội phạm cụ thể theo hướng mỗi tội phạm là một hoặc một nhóm hành vi cụ thể không trùng với hành vi khách quan của tội phạm khác. Ví dụ: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút, bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản; còn hành vi chiếm đoạt tài sản một cách gian dối, bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội, là hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Điều này cho thấy, hậu quả (với tính chất và mức độ) thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ được coi là một tiêu chí đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra chưa được BLHS quy định đầy đủ, cụ thể. Bởi lẽ, theo quy định của BLHS, thì về tính chất, có thể chia hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thành các nhóm:
Thứ nhất, hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người; hậu quả thiệt hại về vật chất hoặc được quy về vật chất (bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tài nguyên và thiệt hại về hoạt động (việc dừng hoặc gián đoạn hoạt động) của các chủ thể quan hệ xã hội; hậu quả thiệt hại phi vật chất (bao gồm thiệt hại về nhân phẩm, danh dự con người; thiệt hại về uy tín, lòng tin của cơ quan, tổ chức; ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội).
Thứ hai, hậu quả thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm, bao gồm số lượng hoặc giá trị đối tượng tác động của tội phạm bị xâm hại, như số lượng hoặc giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị buôn lậu, bị sản xuất trái phép…; hậu quả thiệt hại phát sinh từ hậu quả thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm như số lượng hoặc giá trị gia cầm bị chết do lượng thuốc phòng, chống dịch bệnh cho gia cầm của người chủ trang trại chăn nuôi gia cầm bị chiếm đoạt[1].
Về mức độ, thì hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được đo bằng số lượng, thể tích, khối lượng, giá trị tài sản hoặc mức độ nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Về kỹ thuật lập pháp, thì hậu quả thiệt hại phải được quy định là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt ở các điều khoản của từng tội phạm cụ thể, hoặc là tình tiết giảm nhẹ[2] hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS)[3] để làm cơ sở pháp lý cho việc đánh giá (cân nhắc) tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi QĐHP. Tuy nhiên, cả BLHS hiện hành và Dự thảo đều có một số hạn chế, bất cập sau đây:
Một là, chưa quy định thiệt hại vật chất không phải là đối tượng tác động của tội phạm (thiệt hại phát sinh từ hậu quả thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm) làm tình tiết định tội, định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể hoặc làm tình tiết tăng nặng TNHS. Ví dụ:
Tại Điều 173 BLHS năm 2015 mới chỉ quy định giá trị tài sản bị trộm cắp là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt, mà chưa quy định thiệt hại phát sinh từ hậu quả thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm là tình tiết định tội, định khung hình phạt. Cùng với việc tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” không được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS, thì không có cơ sở để đánh giá hành vi trộm cắp lô thuốc phòng, chống dịch cúm gia cầm trị giá 40.000.000 đồng của người chủ chăn nuôi gây ra thiệt hại là đàn gia cầm trị giá 100.000.000 đồng, nguy hiểm hơn hành vi trộm cắp lô thuốc phòng, chống dịch cúm gia cầm trị giá 40.000.000 đồng của người buôn bán thuốc thú y như hướng dẫn liên ngành tại TTLT số 02/2001.
Hai là, chưa quy định thiệt hại vật chất là đối tượng tác động của tội phạm dưới mức phải chịu TNHS (chưa đủ là tình tiết định tội) làm tình tiết tăng nặng TNHS, do vậy, chưa có cơ sở pháp lý để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để xử phạt nặng hơn trong một số trường hợp phạm tội cụ thể. Ví dụ: Tại Điều 260 BLHS hiện hành quy định vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị coi là phạm tội: làm chết người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên; gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên. Tuy nhiên, trong thực tế, tồn tại các trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra một trong những hậu quả thiệt hại nêu trên (ví dụ: làm chết một người); trường hợp thứ hai, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm chết một người và gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 61% hoặc gây thiệt hại về tài sản dưới 100.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025), thì việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Nghĩa là, khi xét xử vụ án hình sự thuộc trường hợp thứ hai (nêu trên), Tòa án phải quyết định việc bồi thường cho cả người bị gây thiệt hại cho sức khỏe dưới 61%. Khi đó, Tòa án phải so sánh hai trường hợp phạm tội nêu trên để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp phạm tội thứ nhất, cho nên, cần xử phạt người phạm tội trong trường hợp thứ hai nặng hơn. Tuy nhiên, tại Điều 52 BLHS năm 2015 không quy định “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết tăng nặng TNHS, do đó, không có cơ sở pháp lý để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp phạm tội thứ nhất và xử phạt người phạm tội trong trường hợp thứ hai nặng hơn.
Ba là, chưa quy định thiệt hại phi vật chất là tình tiết tăng nặng TNHS, mặc dù trong một số điều luật thuộc Phần các tội phạm có quy định một phần thiệt hại phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội) là tình tiết định tội. Ví dụ:
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản. Như đã trình bày, thì “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” mới chỉ là một phần hậu quả thiệt hại phi vật chất. Nghĩa là, “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” không bao gồm thiệt hại về nhân phẩm, danh dự con người; thiệt hại về uy tín, lòng tin của cơ quan, tổ chức… Điều này cho thấy, việc BLHS năm 2015 bỏ tình tiết “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” với nghĩa là tình tiết định tội, định khung hình phạt ở một số tội phạm cụ thể và với nghĩa là tình tiết tăng nặng TNHS là một bất cập.
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi có một số kiến nghị sau:
Một là, bổ sung tình tiết “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 55 Dự thảo.
Hai là, thay cụm từ “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” tại tất cả các điều luật thuộc Phần các tội phạm BLHS bằng cụm từ “gây hậu quả nghiêm trọng”.
Ba là, nghiên cứu, bổ sung các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt ở một số tội phạm cụ thể, nhất là các tội xâm phạm sở hữu.
2. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 54 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Về các tình tiết giảm nhẹ TNHS, tại điểm s khoản 1 Điều 54 Dự thảo quy định người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Trong đó, “thành khẩn khai báo” là trường hợp người phạm tội đã khai nhận đầy đủ, đúng sự thật, chính xác, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình; còn “ăn ăn năn hối cải” là trường hợp người phạm tội cảm thấy day dứt, hối hận về việc mình đã gây ra và mong muốn có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành người tốt, bù đắp những tổn thất, thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, thì “thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải” không phải là hai tình tiết độc lập. Nếu người phạm tội vừa “thành khẩn khai báo”, vừa “ăn năn hối cải” thì chỉ được coi là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 54 Dự thảo[4]. Cụ thể:
Trường hợp người phạm tội bị bắt quả tang, nhưng sau khi bị bắt, đã khai báo đầy đủ hành vi phạm tội của mình và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS thành khẩn khai báo cho họ. Nếu sau khi bị bắt, người phạm tội quanh co, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật của vụ án và chỉ sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy đủ hành vi phạm tội thì họ mới nhận sự việc phạm tội của họ đúng như cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh, thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS này.
Trường hợp lúc đầu, người phạm tội quanh co, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật, nhưng sau đó, đã khai báo lại một cách đầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội, thì vẫn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo đối với họ, nhưng mức độ giảm nhẹ TNHS trong trường hợp này không thể bằng trường hợp ngay từ đầu họ đã khai báo đầy đủ và đúng sự thật[5].
Theo Dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026, thì tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS hiện hành có một điểm thay đổi là, bổ sung cụm từ “trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự” và dấu (;) vào trước cụm từ “ăn năn hối cải”. Như vậy, điều luật quy định hai tình tiết giảm nhẹ TNHS là: thành khẩn khai báo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; và ăn năn hối cải. Theo đó, người phạm tội chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với “thành khẩn khai báo” khi khai báo thành khẩn trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Còn trường hợp thành khẩn khai báo tại phiên tòa không được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS này và nếu có, thì được hưởng tình tiết ăn năn hối cải?!. Chúng tôi cho rằng, thành khẩn khai báo có thể được thể hiện không chỉ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, mà còn có thể được thực hiện trước khi khởi tố vụ án (người phạm tội tự thú ngay sau khi thực hiện tội phạm), trong giai đoạn truy tố hoặc trong giai đoạn xét xử (tại phiên tòa). Ăn năn hối cải là thái độ ân hận của người phạm tội đối với tội phạm, hậu quả thiệt hại mà người đó đã gây ra cho người bị hại. Theo đó, người không phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng, nhưng bị truy cứu TNHS (nhất là người bị buộc tội oan) thì không bao giờ có thái độ ăn năn hối cải và họ rất thành khẩn khai báo. Do vậy, nếu coi thành khẩn khai báo tại phiên tòa là ăn năn hối cải là không đúng và việc chỉ cho người phạm tội hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS khi người đó thành khẩn khai báo trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là bỏ đi một phần chính sách hình sự đã được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 “Nguyên tắc xử lý”: “Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” của BLHS.
Từ những lý do nêu trên, đề nghị giữ nguyên quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS hiện hành: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” (đã được thể hiện tại Điều 54 Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026).
3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 55 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Về tình tiết tăng nặng TNHS, tại Điều 55 Dự thảo bổ sung tình tiết tăng nặng TNHS là “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân”.
Việc bổ sung tình tiết “Phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân” có liên quan trực tiếp tới việc dự kiến bỏ “tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” tại Điều 113 Dự thảo. Theo đó, tại khoản 1 Điều 288 Dự thảo quy định: “Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng màxâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” thì bị coi là phạm tội khủng bố và mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân không được coi là dấu hiệu định tội của tội khủng bố.
Như vậy, trường hợp giết người (ví dụ: giết Chủ tịch Ủy ban nhân dân) nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị coi là phạm tội giết người và áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS nhằm chống chính quyền nhân dân, hay phạm tội khủng bố và áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS nhằm chống chính quyền nhân dân? Chúng tôi cho rằng, mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân là dấu hiệu bắt buộc của các tội xâm phạm an ninh quốc gia, đồng thời, là dấu hiệu phân biệt tội xâm phạm an ninh quốc gia với tội phạm khác. Theo đó, hành vi khủng bố (nếu nhằm chống chính quyền nhân dân) bị coi là phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân - Điều 113 BLHS hiện hành), nếu không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, thì bị coi là phạm tội xâm phạm an toàn công cộng (tội khủng bố - Điều 299 BLHS hiện hành); hành vi phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, nếu nhằm chống chính quyền nhân dân bị coi là phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia (tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Điều 114 BLHS năm 2015), nếu không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, thì bị coi là phạm tội xâm phạm an toàn công cộng (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia - Điều 303 BLHS năm 2015). Ở đây, bài viết chưa bàn về nội dung các điều 113, 114, 299 và 303 BLHS năm 2015 cùng với Điều 288 Dự thảo (vì không thuộc nội hàm của bài viết này), nhưng có thể cho rằng:
Thứ nhất, việc quy định mục đích “nhằm chống chính quyền nhân dân” là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ quan của các tội xâm phạm an ninh quốc gia là rất cần thiết, chính xác về khoa học luật hình sự.
Thứ hai, việc quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà đối tượng tác động của nó là những gì (con người, cơ sở vật chất) liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia và mục đích của việc thực hiện hành vi nguy hiểm đó nhằm chống chính quyền nhân dân là tội xâm phạm an ninh quốc gia là hoàn toàn chính xác về kỹ thuật lập pháp.
Thứ ba, đồng thời với việc bổ sung tình tiết “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân” là dự kiến bỏ “tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, nhưng tại sao lại không dự kiến bỏ “tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”?
Những lập luận nêu trên cho thấy, việc bổ sung “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân”làm tình tiết tăng nặng TNHS và dự kiến bỏ “tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” là không thuyết phục. Do đó, chúng tôi đề nghị bỏ dự kiến này.
Có một vấn đề liên quan mật thiết với việc quy định các tình tiết tăng nặng TNHS là việc hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS về các tình tiết tăng nặng TNHS. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng TNHS, trong đó có tình tiết vừa là tình tiết định khung, vừa là tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, mà trong cùng một khoản định khung của điều luật, thì chỉ áp dụng 01 tình tiết định khung và các tình tiết còn lại không coi là tình tiết tăng nặng TNHS6. Theo hướng dẫn nêu trên, thì trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên có tổ chức và có tính chất chuyên nghiệp thì chỉ được áp dụng một trong hai tình tiết “có tổ chức” (điểm a khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015) hoặc “có tính chất chuyên nghiệp” (điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015) mà không áp dụng thêm các tình tiết tăng nặng TNHS “có tổ chức” (điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015) và “có tính chất chuyên nghiệp” (điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015). Chúng tôi cho rằng, hướng dẫn nêu trên là không chính xác. Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS hiện hành, thì “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt…: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp…”. Do vậy, trong trường hợp nêu trên, phải áp dụng đồng thời cả hai điểm a và b khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, để xử phạt người phạm tội trộm cắp tài sản. Để khắc phục bất cập nêu trên, đề nghị sửa điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP như sau: “b) Trường hợp tình tiết định khung đồng thời là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự mà trong cùng một khoản định khung của điều luật thì áp dụng tất cả các tình tiết định khung mà không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”.
4. Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026
Về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, tại khoản 1 Điều 54 Dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026 quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Như vậy, Dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026 đã bổ sung “tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” là điều kiện bắt buộc để được xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (Điều 57 Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026 đã bỏ bổ sung này). Trong khi:
(i) “Tự nguyện nhận tội” trong một chừng mực nhất định, có ý nghĩa như “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và là trường hợp người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Trường hợp người phạm tội bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra, đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình (dù chưa bị phát hiện), thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình dù chưa bị phát hiện. Ví dụ: Ngay sau khi có hành vi gây tai nạn giao thông, hậu quả làm chết người, Nguyễn Văn A đã đến cơ quan công an cấp xã để trình diện và khai báo về hành vi phạm tội của mình. Trong trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS hiện hành7.
(ii) “Bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đã là một tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và là một trong các trường hợp sau đây[6]:
Một là, người phạm tội tự mình hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Hai là, người phạm tội không có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra (ví dụ: việc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoặc thuộc trách nhiệm dân sự của các bị cáo khác trong cùng vụ án) nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình, hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Ba là, người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, từ chối nhận, mà số tiền, tài sản đó đã được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án, hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý, để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
Bốn là, có chứng cứ chứng minh người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè...) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối nhận và người thân của người phạm tội đã đem số tiền, tài sản đó cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả khi có yêu cầu.
Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, thì mức độ giảm nhẹ TNHS phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực của người phạm tội trong việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và hiệu quả, mức độ của việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
Vậy, trường hợp người phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ TNHS là “tự thú” và “khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” có đồng nghĩa với việc “…người phạm tội tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại…” hay không?! Vấn đề này chưa được thể hiện rõ về ngôn ngữ pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Mặt khác, nếu đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thì trường hợp “người phạm tội tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” nguy hiểm hơn trường hợp “người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Bởi lẽ, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, thì “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“a) “Ngăn chặn tác hại của tội phạm” là khi tội phạm đã được thực hiện và người phạm tội tự mình hoặc có sự tác động khách quan nên đã bằng những khả năng có thể để ngăn chặn không cho tác hại của tội phạm xảy ra;
b) “Làm giảm bớt tác hại của tội phạm” là khi tội phạm đã được thực hiện, tác hại của tội phạm đang xảy ra và người phạm tội tự mình hoặc có sự tác động khách quan nên đã bằng những khả năng có thể để không cho tác hại của tội phạm tiếp tục xảy ra hoặc xảy ra lớn hơn.
Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào thái độ của người phạm tội (tự mình hay có sự tác động của người khác, yếu tố khách quan khác) và thực tế tác hại của tội phạm đã được ngăn chặn, được làm giảm bớt.
Ví dụ: Ngay sau khi gây ra tai nạn giao thông, Nguyễn Văn A đã đưa nạn nhân đi cấp cứu kịp thời nên tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân được giảm bớt. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự”9.
Vậy trong trường hợp, một người ngay sau khi gây ra tai nạn giao thông (như phóng nhanh, vượt ẩu lao vào một cửa hàng bán mô tô, xe máy) làm thiệt hại về tài sản (ví dụ: là một chiếc mô tô có giá trị trên 100.000.000 đồng) và họ đã mua luôn chiếc xe máy bị thiệt hại đó và đến cơ quan có thẩm quyền tự thú, thì áp dụng căn cứ “tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” hay căn cứ “có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự” để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt?! Do vậy, chúng tôi đề nghị, nếu giữ nguyên quy định “tự nguyện nhận tội, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại” tại khoản 1 Điều 54 Dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026, thì cần thiết kế lại, hoặc giải thích lại nội hàm của các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm a, b và r khoản 1 Điều 51 BLHS hiện hành và điều kiện “có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự” để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
5. Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án tại Điều 59 Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Đoạn 2 khoản 1 Điều 59 Dự thảo quy định: “Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt chung”. Chúng tôi cho rằng, việc sửa đổi như trên là không thuyết phục, vì nếu quy định như vậy, thì thời hạn chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án trong trường hợp này là tổng mức hình phạt của tội mới bị xét xử cộng với (mức hình phạt của bản án trước sau khi đã trừ đi thời hạn đã chấp hành). Đây là trường hợp, được gọi là (cộng trước, trừ sau) đã được các Tòa án áp dụng (ít nhất là từ khi có BLHS năm 1985 và không có gì vướng mắc trong thực tiễn). Theo đó, nếu một người đã chấp hành được 02 năm tù trong tổng số 07 năm tù, mà lại bị kết án 05 năm tù về một tội đã phạm trước khi có bản án xử phạt 07 năm tù, thì hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 năm tù + 07 năm tù - 02 năm tù = 10 năm tù. Khi đó, thời điểm chấp hành hình phạt chung tính từ ngày Tòa án ra quyết định thi hành bản án sau (bản án xử phạt bị cáo 10 năm tù). Còn theo quy định của Dự thảo sửa đổi khoản 1 Điều 56 BLHS hiện hành, thì hình phạt chung cho cả hai bản án trong trường hợp nêu trên là 05 năm tù + 07 năm tù = 12 năm tù và thời điểm chấp hành hình phạt chung được tính từ ngày bắt đầu chấp hành bản án trước. Về số học, dù tính theo cách nào, thì người bị kết án trong trường hợp nêu trên cũng chỉ còn phải chấp hành 10 năm tù (tính từ ngày kết thúc phiên tòa thứ hai). Tuy nhiên, việc tính theo cách cũ sẽ đồng bộ với các quy định khác của BLHS (như quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên). Bởi lẽ, nếu theo cách tính cũ, mà hiện tại vẫn còn hiệu lực, thì phải sau hơn 03 năm chấp hành quyết định thi hành bản án thứ hai, người phạm tội mới có thể được xét giảm án lần đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 63 BLHS năm 2015. Còn nếu theo cách tính thứ hai (quy định của Dự thảo), thì người bị kết án đã có 02 năm được tính vào việc chấp hành hình phạt chung, cho nên chỉ cần hơn 01 năm sau khi bị xét xử (tính từ ngày kết thúc phiên tòa thứ hai), người phạm tội mới có thể được xét giảm án lần đầu. Điều này không hợp lý về chính sách hình sự, do vậy, chúng tôi đề xuất không sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 56 BLHS hiện hành như Dự thảo.
Kết luận
Chế định QĐHP là thước đo tính nghiêm minh, công lý và sự chuẩn xác trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân. Việc xây dựng Dự thảo BLHS (sửa đổi) là cơ hội quan trọng, nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý của BLHS hiện hành.
Tuy nhiên, qua phân tích các quy định tại các điều 53, 54, 55, 57 và 59 của Dự thảo, có thể thấy, nhiều nội dung sửa đổi còn thiếu tính đồng bộ, chưa bảo đảm tính khoa học pháp lý và có nguy cơ gây xáo trộn, vướng mắc lớn trong thực tiễn xét xử. Cơ quan soạn thảo cần cân nhắc thận trọng việc đưa hậu quả thiệt hại trở lại làm tình tiết định khung/tăng nặng; bảo đảm tính toàn diện của tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”; giữ nguyên tính ổn định của các quy phạm về đồng phạm, an ninh quốc gia và nguyên tắc tổng hợp hình phạt đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Việc tiếp thu, hoàn thiện các quy định này, sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Hội đồng xét xử thực hiện đúng đắn quyền tư pháp, cá thể hóa hình phạt chính xác và bảo đảm sự thượng tôn pháp luật.
[1] Xem: Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999 (gọi tắt là TTLT số 02/2001).
[2] Tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS hiện hành quy định “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Theo điểm a khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự (gọi tắt là Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP), thì: “a) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là trường hợp tội phạm đã được thực hiện nhưng thiệt hại (vật chất hoặc phi vật chất) không xảy ra trên thực tế. Khi xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cần phân biệt với trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự”.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A phá cửa nhà người khác để lấy trộm chiếc xe máy trị giá 20.000.000 đồng. A đã đưa được xe máy ra khỏi cổng nhà thì bị chủ nhà phát hiện, hô hoán nên hàng xóm ngăn chặn, bắt giữ được A cùng xe máy. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Ví dụ 2: Nguyễn Văn A phá cửa nhà người khác để lấy trộm chiếc xe máy trị giá 20.000.000 đồng nhưng khi đang cố gắng tìm cách mở khóa xe thì bị chủ nhà phát hiện, bắt giữ. Trường hợp này, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của BLHS hiện hành.
Theo điểm b khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP quy định: “b) Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là trường hợp tội phạm đã được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (thiệt hại thực tế đã xảy ra) nhưng thiệt hại xảy ra không lớn so với mức bình thường của tội phạm đó. Việc xác định thiệt hại lớn hay không lớn phải căn cứ vào giá trị thiệt hại (thiệt hại vật chất), ảnh hưởng của thiệt hại đến chủ sở hữu và xã hội (thiệt hại phi vật chất). Đối với thiệt hại vật chất thì căn cứ vào trị giá quy đổi thành tiền, đối chiếu với định lượng bằng tiền quy định trong các cấu thành tội phạm tương ứng mà tội phạm xâm phạm. Đối với thiệt hại phi vật chất thì đánh giá mức độ ảnh hưởng của tội phạm tới tâm lý, tinh thần, uy tín, danh dự sức khỏe của bị hại, mức độ ảnh hưởng tới dư luận, đời sống xã hội, cộng đồng để xem xét xác định”.
[3] Tại điểm k khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 quy định là tình tiết tăng nặng TNHS.
[4] Điểm a, b khoản 17 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
[5] Điểm b khoản 17 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
6 Điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
7 Xem: Khoản 16 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
[6] Xem: Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
9 Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
Tài liệu tham khảo
1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026.
2. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 09/10/2026.
3. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
4. Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999.
5. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
6. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025.
Bài liên quan
-
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ THẨM QUYỀN KHÁC CỦA TÒA ÁN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN 03 CẤP
Determining the jurisdiction and other competeneces of Courts the three-tier Court system -
GIỚI HẠN XÉT XỬ, TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIMITS OF TRIAL, BURDEN OF PROOF AND THE COURT’S ROLE IN RELATION TO DOCUMENTS AND -
HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Improving the Criminal Procedure Code to meet the requirements for the exercise of judicial power by the People’s Courts in the new period -
Tháo gỡ vướng mắc trong xây dựng vị trí việc làm tại hệ thống Tòa án nhân dân
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Handling physical evidence in criminal cases: Issues in improving the Vietnamese criminal procedure law from the perspective of adjudication -
TANDTC đánh giá kết quả rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031
-
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM: NHỮNG BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Shortcomings, difficulties and proposals for amending and supplementing the Vietnamese Penal Code -
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TỐ TỤNG ĐIỆN TỬ TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Improving the legal framework for eletronic procedures in criminal adjudication -
VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI DỰ THẢO BỘ LUẬT HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI) THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30/4/2025 CỦA ĐẢNG
Circumstances excluding criminal responsibility in the Draft Penal Code (amended) in accordance with Resolution No. 66-NQ/TW dated 30 April 2025 of the Party
Bình luận