Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Có thể yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành

(TCTA) - Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao chất lượng hòa giải, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và huy động nguồn lực xã hội. Những đổi mới này góp phần giải quyết kịp thời mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, củng cố đoàn kết cộng đồng và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.

Ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở số 16/2026/QH16 với 471/472 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 99,79%. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027, thay thế Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013.

Luật gồm 5 chương, 35 điều, được ban hành nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, phát huy các hình thức tự quản của cộng đồng và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. Đồng thời, Luật khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh sau hơn một thập niên thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đáp ứng yêu cầu phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số trong tình hình mới.

Hòa giải ở cơ sở là phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Thông qua sự hướng dẫn, giúp đỡ của hòa giải viên, các bên tự nguyện thỏa thuận, tháo gỡ bất đồng mà không nhất thiết phải khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết. Hoạt động này không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân mà còn góp phần duy trì tình làng, nghĩa xóm, hạn chế xung đột và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trên tinh thần đó, Luật năm 2026 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tự nguyện, tự quản; hạn chế tối đa việc “hành chính hóa” hoạt động hòa giải. Việc tổ chức hòa giải phải linh hoạt, thuận lợi cho các bên, phù hợp với tính chất của từng vụ việc và điều kiện thực tế của địa bàn.

Luật đồng thời bổ sung nguyên tắc về ngôn ngữ sử dụng trong hòa giải. Tiếng nói, chữ viết dùng trong hòa giải ở cơ sở là tiếng Việt; các bên có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Người khuyết tật nghe, nói hoặc nhìn được hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ viết dành riêng cho người khuyết tật. Quy định này bảo đảm mọi người dân đều có khả năng tiếp cận bình đẳng với cơ chế hòa giải.

Một trong những điểm mới đáng chú ý là Luật dành riêng Điều 5 quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở. Theo đó, hòa giải viên, các bên và người có liên quan phải bảo mật thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải. Đây là yêu cầu đặc biệt cần thiết bởi nhiều vụ việc hòa giải liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc quyền tài sản của các bên. Cơ chế bảo mật chặt chẽ giúp người dân yên tâm cung cấp thông tin, trình bày đầy đủ nguyên nhân của mâu thuẫn; qua đó tạo điều kiện để hòa giải viên lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp. Quy định này càng có ý nghĩa trong bối cảnh hoạt động hòa giải từng bước được số hóa.

Luật cũng lần đầu tiên xác định rõ: “Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở”. So với quy định Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí trước đây, sự thay đổi này thể hiện trách nhiệm đầy đủ hơn của chính quyền các cấp trong việc bố trí nguồn lực cho hoạt động hòa giải. Đây là cơ sở để khắc phục tình trạng một số địa phương chưa quan tâm đúng mức hoặc chưa bố trí đầy đủ kinh phí cho các tổ hòa giải.

Luật mở rộng nguồn lựa chọn hòa giải viên từ người “thường trú tại cơ sở” thành người “cư trú tại cơ sở”, bao gồm cả người thường trú và người tạm trú. Quy định này giúp địa phương huy động được những người có uy tín, kinh nghiệm, kiến thức pháp luật và kỹ năng vận động quần chúng tham gia công tác hòa giải. Cùng với việc mở rộng nguồn lựa chọn, Luật nâng cao tiêu chuẩn hòa giải viên. Người được lựa chọn phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật hoặc thi hành quyết định xử lý kỷ luật; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích. Phương thức bầu hòa giải viên cũng được đổi mới theo hướng linh hoạt. Ngoài hình thức bầu trực tiếp, Luật cho phép tổ chức biểu quyết trực tuyến; việc bầu có thể được thực hiện tại từng cụm dân cư. Địa phương được chủ động lựa chọn hoặc kết hợp các hình thức phù hợp với điều kiện dân cư, địa lý và khả năng ứng dụng công nghệ.

Đáng chú ý, Luật thiết lập cơ chế chỉ định hòa giải viên trong trường hợp không bầu đủ số lượng, không bảo đảm thành phần hoặc không thể tổ chức bầu do sự kiện bất khả kháng. Người được công nhận bằng phương thức chỉ định phải được đưa ra bầu trong thời hạn ba năm kể từ ngày được công nhận. Quy định này vừa bảo đảm hoạt động của tổ hòa giải không bị gián đoạn, vừa duy trì nguyên tắc dân chủ, công khai và sự tín nhiệm của cộng đồng.

Luật quy định cụ thể hơn về việc mời người có chuyên môn, kinh nghiệm tham gia tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc trực tiếp tham gia hòa giải. Người được mời trực tiếp tham gia có quyền hưởng thù lao theo vụ việc; được hỗ trợ, tạo điều kiện khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong quá trình thực hiện hoạt động hòa giải. Cơ chế này tạo điều kiện thu hút luật gia, luật sư, người có uy tín, người am hiểu phong tục, tập quán hoặc có kiến thức chuyên môn cùng tham gia giải quyết những vụ việc phức tạp. Qua đó, hoạt động hòa giải không chỉ dựa vào kinh nghiệm của hòa giải viên mà còn có thể tiếp cận sự hỗ trợ chuyên sâu khi cần thiết. Đối với trường hợp các bên và hòa giải viên không hiểu ngôn ngữ của nhau, Luật cho phép có người phiên dịch. Các bên có quyền lựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay đổi người phiên dịch. Đây là cơ chế cụ thể bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số, người khuyết tật và những người gặp trở ngại về ngôn ngữ khi tham gia hòa giải.

Lần đầu tiên, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được quy định trong Luật Hòa giải ở cơ sở. Việc bầu hòa giải viên, tổ chức hòa giải trực tuyến, ghi sổ theo dõi hoạt động hòa giải và thực hiện một số công việc liên quan có thể được tiến hành trên môi trường số. Việc ứng dụng công nghệ phải gắn chặt với yêu cầu bảo mật thông tin, phù hợp với điều kiện thực tế và bảo đảm sự tự nguyện của các bên. Quy định này mở rộng khả năng tiếp cận hòa giải, nhất là trong trường hợp các bên cư trú ở những địa bàn khác nhau hoặc gặp khó khăn trong việc tham gia trực tiếp.

Luật cũng ghi nhận quyền của các bên yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo pháp luật tố tụng dân sự. Khi được Tòa án công nhận, kết quả hòa giải thành có giá trị pháp lý và được bảo đảm thi hành theo quy định. Cơ chế này làm tăng tính ràng buộc của thỏa thuận, củng cố niềm tin của người dân đối với phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Một điểm mới mang tính phòng ngừa là quy định trách nhiệm phối hợp giữa hòa giải viên và chính quyền cơ sở trong việc nhận diện, ngăn chặn sớm những mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực, hành vi vi phạm pháp luật hoặc đe dọa tính mạng, sức khỏe con người. Như vậy, hòa giải ở cơ sở không chỉ dừng lại ở xử lý mâu thuẫn đã phát sinh mà còn hướng tới chủ động phòng ngừa hậu quả, bảo vệ an toàn của người dân.

Với những quy định mới toàn diện, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 tạo lập hành lang pháp lý vững chắc để nâng cao chất lượng, hiệu quả hòa giải trong giai đoạn mới. Việc tổ chức thi hành nghiêm túc Luật sẽ góp phần giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp từ sớm, từ cơ sở; giảm áp lực cho các cơ quan hành chính, cơ quan tiến hành tố tụng; củng cố đoàn kết cộng đồng và giữ vững an ninh, trật tự. Quan trọng hơn, đây còn là phương thức thiết thực để đưa pháp luật vào đời sống, nâng cao ý thức pháp lý của người dân và xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh.

QUANG PHÚC

Sáng 10/9/2026, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 15 luật đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất - ảnh: KHẢI HOÀN/TCTA.