Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong Hiệp định CPTPP và tham chiếu với thực trạng pháp luật Việt Nam

Hiệp định CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) đặt ra nghĩa vụ bắt buộc các thành viên phải bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nỗ lực cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi vị, nhằm đáp ứng nhu cầu cạnh tranh thương mại hiện đại. Để thực thi cam kết này, Việt Nam đã sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, chính thức công nhận nhãn hiệu âm thanh và quy định cụ thể về cách thức đăng ký dưới dạng đồ họa và tệp âm thanh. Việc chuyển đổi này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hệ thống thực thi để quản lý hiệu quả các loại hình nhãn hiệu phi truyền thống trong tương lai.

1. Khái niệm và phân loại nhãn hiệu phi truyền thống

Sự gia tăng cạnh tranh không ngừng trong thương mại, một mặt đã dẫn đến nhu cầu bảo hộ đối với các những lĩnh vực kinh doanh mới, trong đó có lĩnh vực cung ứng dịch vụ (nhãn hiệu dịch vụ); mặt khác cũng dẫn tới việc thừa nhận bảo hộ đối với những hình thức nhãn hiệu mới, như nhãn hiệu được thể hiện trong không gian ba chiều, nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi vị, nhãn hiệu ánh sáng[1]. Trong tài liệu nước ngoài, người ta đã sử dụng các thuật ngữ như “non traditional” hoặc “non-conventional”để chỉ các loại nhãn hiệu đặc biệt này[2]. Tại Điều 15.1 TRIPS3 đưa ra một phạm vi rất rộng các dấu hiệu có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu: bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, bao gồm dấu hiệu nhìn thấy được (như các chữ cái, các chữ số, các yếu tố hình họa) và dấu hiệu không nhìn thấy được (như âm thanh, mùi, vị) có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể được đăng ký làm nhãn hiệu4. Ủy ban thường trực về Luật Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý (SCT) của WIPO tại Hội nghị năm 2006 đã đưa ra văn kiện SCT 16-2 về các loại nhãn hiệu mới - “new types of marks”, đây là thuật ngữ đầu tiên trong các văn bản của tổ chức quốc tế đề cập vấn đề này, tuy nhiên, tại các hội nghị và các văn bản tiếp theo WIPO lại sử dụng thuật ngữ “non traditional trademarks” (nhãn hiệu phi truyền thống). WIPO căn cứ vào các yếu tố cấu thành khác nhau để phân loại các nhãn hiệu phi truyền thống thành hai nhóm: nhãn hiệu phi truyền thống có thể nhận biết bằng thị giác (gồm nhãn hiệu lập thể - ba chiều, nhãn hiệu màu, nhãn hiệu động và nhãn hiệu đoạn phim); nhãn hiệu phi truyền thống không nhận biết được bằng thị giác (nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu vị giác và nhãn hiệu xúc giác)5. Như vậy, nhãn hiệu phi truyền thống là những dấu hiệu có thể được cảm nhận bởi người tiêu dùng thông qua các cơ quan giác quan khác nhau của con người như thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác thay vì được nhận biết thông qua thị giác như đối với những nhãn hiệu truyền thống. Sự xuất hiện của những dấu hiệu này chủ yếu là nhờ vào sự phát triển của các công cụ kỹ thuật truyền tải thông tin. Việc đăng ký và bảo hộ những dấu hiệu này không phải là phổ biến và chủ yếu chúng được dùng để phân biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Trong nội dung này, chúng tôi sẽ đề cập nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi - là những nhãn hiệu phi truyền thống được đề cập trong CPTPP.

2. Đặc điểm và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và mùi vị trên thế giới

Trong số những dấu hiệu phi truyền thống dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ, nhãn hiệu là âm thanh chiếm giữ một vị trí chủ yếu. Có hai loại nhãn hiệu âm thanh điển hình có thể phân biệt, đó là nhãn hiệu âm thanh được ghi lại bằng các nốt nhạc hoặc các dấu hiệu tượng trưng khác và những âm thanh khác (chẳng hạn tiếng kêu gào của một con vật)6. Một số ví dụ về nhãn hiệu âm thanh như: nhạc hiệu của các chương trình phát thanh “Маяк”; “Europa Plus”; chuông nhạc chờ của các hãng điện thoại Sony Ericsson, Philips, Samsung, Nokia; tiếng sư tử gầm cho dịch vụ giải trí truyền hình của hãng MGM (Mỹ). Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế (INTA) đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu âm thanh như sau: Nhãn hiệu âm thanh là nhãn hiệu có thể bao gồm một giai điệu, một đoạn nhạc hoặc âm thanh khác. Nhãn hiệu âm thanh đó có thể là một đoạn nhạc trích từ một tác phẩm âm nhạc hoặc toàn bộ tác phẩm âm nhạc. Những dấu hiệu âm thanh là âm nhạc có thể có được từ hoạt động tự sáng tác (ví dụ như “đoạn nhạc khởi động của máy Nokia”), có thể sáng tác với mục đích để sử dụng làm nhãn hiệu hoặc có thể lấy từ các bài hát, điệu nhạc sẵn có như chính nốt nhạc ban đầu của bản nhạc “Fur Elisa”. Trong một số trường hợp nhãn hiệu có thể là những âm thanh trong cuộc sống hàng ngày7. Pháp luật một số quốc gia (Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Bungary, Hungary, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, v.v.) có những quy định trực tiếp cho phép đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu âm thanh8.

Một loại nhãn hiệu phi truyền thống đáng chú ý nữa - nhãn hiệu mùi vị. Nhãn hiệu mùi vị thường là công thức hóa học cho một loại chất9. Những nhãn hiệu này được đăng ký thông qua việc mô tả chúng. Nhãn hiêu mùi vị có thể được mô tả bằng lời cùng với việc chỉ dẫn đến những mùi vị đã được biết đến, ngoài ra, có thể thể hiện thông qua một công thức hóa học duy nhất có khả năng tạo ra mùi vị đăng ký10. Mỹ là quốc gia đầu tiên công nhận việc đăng ký nhãn hiệu mùi vị - mùi thơm tươi mát của nước hoa Plumeria dùng cho chỉ may và thêu ren vào năm 1990. Theo Quyết định ngày 11/02/1999, Phòng giải quyết khiếu nại của Cơ quan hài hòa hóa nội địa (nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) của Cộng đồng châu Âu (Office for Harmonization in the Internal Market (OHIM)) đã cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi vị đối với “mùi cỏ tươi mới cắt” cho bóng tenis11. Công ty Mercedes đã đăng ký nhãn hiệu mùi dùng trong cabin ô tô với luận chứng cho rằng một người ngồi trong ô tô có thể nhận biết được của thương hiệu ô tô mà anh ta đang sử dụng thông qua mùi vị. Nhãn hiệu mùi được bảo hộ tại các quốc gia như Mỹ, Anh, Liên minh châu Âu, v.v..

Mặc dù dấu hiệu mùi, cũng như dấu hiệu âm thanh là những dấu hiệu không thể nhìn thấy được, nhưng theo đều có thể được bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 15 TRIPS. Hiệp ước Luật Nhãn hiệu năm 1994 thì không áp dụng với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi. Tại Điều 2 (1b) Hiệp ước Luật Nhãn hiệu năm 1994 quy định: Hiệp ước không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều (holography) và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi12. Trải qua những thay đổi của pháp luật về nhãn hiệu tại Liên minh châu Âu, cho đến nay, việc đăng ký nhãn hiệu phi truyền thống ở Liên minh châu Âu đã trở nên đơn giản hơn với việc loại bỏ yêu cầu về việc “nhãn hiệu phải có khả năng thế hiện dưới dạng hình họa” tại tất cả các quốc gia là thành viên của Liên minh13.

3. Nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong Hiệp định CPTPP

Trong khi EVFTA không trực tiếp đề cập nhãn hiệu phi truyền thống thì tại Điều 18.18 CPTPP đưa ra yêu cầu về việc “không bên nào được quy định rằng dấu hiệu phải được nhìn thấy bằng mắt như một điều kiện để đăng ký, cũng không được từ chối việc đăng ký nhãn hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra, mỗi Bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi vị”14. Bằng quy định này, CPTPP đưa ra nghĩa vụ của các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam phải nhanh chóng thiết lập hệ thống bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống mà trước hết là nhãn hiệu âm thanh và tiến tới bảo hộ nhãn hiệu mùi vị. Việt Nam sẽ có thời hạn 3 năm kể từ ngày CPTPP có hiệu lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cho phù hợp với quy định này.

4. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và một số định hướng hoàn thiện

 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2022 quy định, nhãn hiệu được bảo hộ phải đáp ứng được các điều kiện: (1) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện dưới dạng đồ họa; (2) Có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 cho đến nay đã bổ sung thêm đối tượng bảo hộ là “những dấu hiệu âm thanh thể hiện dưới dạng đồ họa”, ngoài những dấu hiệu “nhìn thấy được” như trong quy định trước đây.

Để thiết lập cơ chế bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã bổ sung thêm khoản 7 Điều 73 về trường hợp từ chối bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nếu như “dấu hiệu chứa bản sao tác phẩm, trừ trường hợp được phép của chủ sở hữu tác phẩm đó”. Quy định này được đánh giá là có tính mở vì có thể được áp dụng với cả những loại dấu hiệu khác ngoài dấu liệu có liên quan đến âm thanh. Ngoài ra, khoản 2 Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung  năm 2022 đã bổ sung yêu cầu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh: nếu nhãn hiệu là âm thanh thì mẫu nhãn hiệu phải là tệp âm thanh và bản thể hiện dưới dạng đồ họa của âm thanh đó.

Các quy định trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của TRIPS về việc các quốc gia thành viên có thể bảo hộ cả những nhãn hiệu “không nhìn thấy được”, cũng như phù hợp với yêu cầu bắt buộc của CPTPP về việc các bên cần nhanh chóng thiết lập hệ thống bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống mà trước hết là nhãn hiệu âm thanh. Như vậy, cho đến thời điểm này Việt Nam đã chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Việc đáp ứng chuẩn mực này của CPTPP sẽ làm thay đổi cơ bản hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam: không những cần bổ sung, chỉnh sửa các các quy đinh hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu (điều kiện, nội dung bảo hộ, thủ tục và các yêu cầu liên quan đến xác lập quyền đối với nhãn hiệu, hành vi xâm phạm và căn cứ xác định hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu, v.v.) mà còn cần hoàn thiện hệ thống đăng ký và thực thi quyền đối với nhãn hiệu để đáp ứng việc đăng ký và bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống nói chung cũng như nhãn hiệu âm thanh nói riêng. Bởi quá trình đăng ký và bảo hộ những dấu hiệu này sẽ nảy sinh một số vấn đề mang tính chất kỹ thuật, đặc biệt là liên quan đến khả năng lưu giữ và truyền tải nhãn hiệu cũng như việc công bố hay xác định hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần phải nhanh chóng xem xét việc mở rộng đối tượng bảo hộ đối với nhãn hiệu mùi vị để đáp ứng yêu cầu của CPTPP về việc mỗi bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký loại nhãn hiệu này.

 

THANH SƠN

1 Xem Nguyễn Thị Quế Anh: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ trên thế giới và phương huớng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ ở Việt Nam. Đề tài NCKH cấp cơ sở. Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN, 2002, tr.69.

2 Xem Галифанов Г.Г. Охраноспособность товарных знаков / Г.Г. Галифанов, Р.А. Карлиев, Р.Г. Галифанова. – М.: МДМпринт, 2015. – С. 103

3 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.

4 Xem điều 15.1 Hiệp định TRIPS.

5 Xem Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Sử dụng và bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, Hà Nội, 2018, tr.5-6.

6 Xem: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới: Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Số xuất bản WIPO No 888, Bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, 2005, tr.69.

7 Xem: Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Sử dụng và bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, Sđd, tr.31

8 Ví dụ: Vào năm 1994 Hãng Harley Davidson đã đệ đơn lên Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ để đăng ký nhãn hiệu âm thanh là tiếng động cơ xe máy của động cơ 2 kỳ VT-win, http://www.tverlib.ru/otdel_lib/patentcenter/seminar/20110623/omelko%20tm%20exam%20inc%20opp%20cancel%20rus.pdf.

9 Công thức hóa học: C6H5-CH = CHCOOCH3 mô tả mùi hoa quả thơm ngát thêm một chút hương quế đã được thể hiện trong mô tả đăng ký nhãn hiệu số 3987020128 tại Đan Mạch cho chất hóa học tinh khiết methyl cinnamate. Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Sử dụng và bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, Tlđd, 2018, tr.21. 

10 Xem Фелицына С.Б. Сладкий аромат товарного знака / С.Б. Фелицына,В.В. Журавлева. – 4 октября 2004 г, http://ru-alter.info/content/view/55/43/.

11 WIPO: Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng. Bản dịch từ “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use”, Cục Sở hữu trí tuệ, 2005. tr.69.

12 Xem Hiệp ước Luật Nhãn hiệu năm 1994.

14 Xem Điều 18.18 Hiệp định CPTPP.

Bài viết thuộc Chuyên mục Các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới, trong khuôn khổ Nhiệm vụ SHTT.TW.28-2022.