Nguyễn Văn A phạm tội Giết người theo Điều 123 BLHS
Sau khi nghiên cứu bài viết trao đổi ý kiến “Nguyễn Văn A phạm tội gì?” của tác giả Nguyễn Văn Vũ và Phạm Thị Thủy đăng ngày 31/10/2023, nhóm tác giả đồng thuận với quan điểm thứ hai.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp để phân biệt đúng tội danh cố ý gây thương tích và tội giết người là một việc vô cùng khó khăn, rất dễ nhầm lẫn vì hai tội này có dấu hiệu pháp lý gần giống nhau. Trong trường hợp tội giết người với hậu quả làm chết người và tội cố ý gây thương tích trong trường hợp dẫn đến chết người đều có mặt khách quan giống nhau là làm cho nạn nhân chết. Khác nhau ở mặt chủ quan, đối với tội giết người người thực hiện hành vi phạm tội mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả chết người xảy ra; đối với tội cố ý gây thương tích thì họ không có ý định tước đoạt tính mạng, chỉ mong muốn hoặc để mặc cho thương tích xảy ra
Trong tình huống này, mục đích ban đầu của A là chỉ muốn đánh V nhưng do lúc giằng co A thất thế bị V đánh lại; lúc này bị kích động nên A đã lấy thanh sắt để đánh 1 phát vào ngực, 1 phát vào đầu, 1 phát vào chân V. Khi V bỏ chạy thì A đuổi theo đánh tiếp 2 phát vào ngực V. Do có người can ngăn nên A dừng lại. Sau đó, V chạy xe đi thì A vẫn cầm thanh sắt và chạy xe đuổi theo dẫn đến việc V chạy xe tốc độ cao để bị tai nạn và tử vong.
A hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được vùng đầu, ngực là vị trí trọng yếu trên cơ thể con người, việc dùng hung khí có tính nguy hiểm như thanh sắt dài 60 cm đánh vào đầu, ngực của người khác với lực mạnh hoàn toàn có khả năng dẫn đến chết người. Đồng thời, khi V bị đánh xong, A vẫn bất chấp hậu quả cầm thanh sắt và chạy xe đuổi theo trong tình trạng V đã bị đánh nhiều phát, không thể chống đỡ được sự tấn công của A. Có thể nói rằng A đã có ý định tước đoạt tính mạng của V.
A đã cố ý đối với hành vi gây thương tích và cố ý đối với hậu quả chết người, có thể là mong muốn hay để mặc hậu quả chết người xảy ra thì theo chúng tôi đều định tội danh giết người. Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng A đã phạm tội “giết người” theo quy định tại Điều 123 BLHS.
Tuy nhiên, trên thực tế khi xem xét định tội danh trong những trường hợp này cần phải hết sức cẩn thận, phân tích toàn diện các khía cạnh và nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án để có thể định đúng tội danh.
Trên đây là quan điểm của nhóm tác giả, rất mong trao đổi cùng đồng nghiệp, bạn đọc.
TAND huyện Yên Dũng xét xử vụ án hình sự - Ảnh: Nguyễn Hoàng Hiển
Bài liên quan
-
Bình luận về việc xác định tính đồng phạm đối với các bị can về tội cố ý gây thương tích
-
Các đối tượng tham gia rượt đuổi bị hại nhưng bị mất dấu là đồng phạm với các bị can về tội cố ý gây thương tích
-
Cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn A đồng thời điểm a và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Các đối tượng tham gia rượt đuổi bị hại nhưng bị mất dấu có đồng phạm với các bị can về tội cố ý gây thương tích không?
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”
-
Bàn về hôn nhân đồng giới: từ quan hệ nhân thân đến tài sản
-
Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015
-
Di chúc hợp pháp không có công chứng, chứng thực
-
Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 – một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện
Bình luận