Giới thiệu nội dung Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 năm 2021

BTK - Tạp chí Tòa án nhân dân số 03 năm 2021 xuất bản ngày 10 tháng 02 năm 2021. Trên Tạp chí số này, chúng tôi trân trọng giới thiệu đến bạn đọc 06 bài viết là các công trình nghiên cứu về các vấn đề, lĩnh vực khác nhau hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm, tìm hiểu từ xã hội và một bài tổng hợp ý kiến về việc xác định tội danh trong một vụ án cụ thể.

05 tháng 02 năm 2021 09:19 GMT+7    0 Bình luận

Trong nội dung bài giới thiệu này, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cơ bản, trọng tâm mà các bài viết đề cập đến, cụ thể như sau:

Trong bài viết:“Hành vi quấy rối người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam "tác giả Trần Thăng Long – Trương Thị Thúy Quỳnh nhận định: Hành vi quấy rối người tiêu dùng được hiểu là việc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với người tiêu dùng để giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ, về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc đề nghị giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng, gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.

Thực tiễn hiện nay cho thấy, các hình thức bán hàng, quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng hoặc thông qua tin nhắn, gọi điện thoại cho người tiêu dùng đang là xu hướng kinh doanh trong xã hội hiện đại, được nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng. Nhưng điều này cũng gây không ít phiền phức cho người tiêu dùng bởi bị làm phiền quá nhiều, gây mất thời gian, ảnh hưởng đến công việc cũng như đời sống cá nhân. Tuy nhiên, vấn đề xử lý những hành vi này vẫn chưa triệt để, cơ chế để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng liên quan đến hành vi này vẫn chưa rõ ràng và quyết liệt, thêm vào đó các quy định của pháp luật để điều chỉnh hành vi quấy rối người tiêu dùng vẫn chưa nhiều và chưa thật sự rõ ràng và chưa được hướng dẫn cụ thể. Đây là những thách thức lớn cho công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Để làm sáng tỏ nhận định nêu trên, trong bài viết của mình, các tác giả tập trung phân tích về những vấn đề pháp lý cơ bản về hành vi quấy rối người tiêu dùng và thực trạng thực hiện các dạng hành vi quấy rối người tiêu dùng và một số vướng mắc, bất cập; từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể.

Với bài viết:“ Một số ý kiến về việc áp dụng quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện, tác giả Lê Anh Tuấn cho rằng: Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với sự kế thừa những quy định về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của cá nhân trong các Bộ luật Hình sự trước đó tiếp tục được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền sống của con người một cách chặt chẽ và thống nhất, đảm bảo tính răn đe, nghiêm trị hành vi xâm phạm quyền sống của con người.

Một trong những nội dung được đặc biệt ưu tiên bảo vệ trong chính sách hình sự của nước ta là quyền sống của trẻ em, đặc biệt là đứa trẻ mới sinh ra được coi là nhóm chủ thể yếu thế bởi sự hạn chế về nhận thức và năng lực hành vi, cần dành sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt. Do đó, hành vi tước đoạt mạng sống của chủ thể này được quy định tách riêng thành một điều luật độc lập với khung hình phạt tương ứng để tách biệt với các hành vi xâm phạm tính mạng đối với các nhóm đối tượng khác.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 124 quy định về tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ một cách cụ thể hơn, khắc phục được cơ bản những vướng mắc, bất cập khi xử lý hành vi giết con mới đẻ tại Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy vẫn còn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập; trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá về những hạn chế, tồn tại trong quy định về tội danh này, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện cụ thể.

Trong bài viết: Một số vấn đề về định tội danh “tổ chức đánh bạc” đối với hành vi sử dụng mạng Iinternet để phạm tội theo Bộ luật Hình sự năm 2015”, tác giả Cao Việt Hoàng – Đặng Văn Huy nhận định: Những năm gần đây, tội phạm đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trên mạng Internet diễn ra phổ biến. Đặc biệt vào các mùa bóng đá như giải World Cup, Ngoại hạng Anh, Cup C1 Châu Âu thì hoạt động đánh bạc, tổ chức đánh bạc qua mạng Internet càng nghiêm trọng cả về quy mô và mức độ. Hành vi cá độ bóng đá qua mạng Internet rất tinh vi, thường sử dụng các trang mạng có tên miền quốc tế, máy chủ đặt ở nước ngoài; các tài khoản tổng có thể chia nhỏ thành nhiều tài khoản và tự quy ước số tiền trên mỗi điểm của tài khoản; số lần cá cược không giới hạn, nên có vụ án số tiền đánh bạc lên đến hàng chục tỷ đồng, số lần cá độ của mỗi tài khoản có thể lên đến hàng nghìn lượt. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh trật tự xã hội; khánh kiệt kinh tế của gia đình và của chính bản thân người phạm tội. Nghiêm trọng hơn, hành vi đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm, cướp tài sản, giết người và các tệ nạn xã hội nghiêm trọng khác.

Do đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết là Bộ luật Hình sự năm 2015) đã có sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung đối với tội đánh bạc (Điều 321) và tội tổ chức đánh bạc (Điều 322) so với Điều 248 và Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong đó, đáng chú ý là, bổ sung tình tiết định khung “sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” cho cả tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc.

Tuy nhiên, do tình tiết định khung tăng nặng “sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” là quy định mới, nên trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tố tụng còn gặp vướng mắc. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung nghiên cứu một số quy định của BLHS năm 2015 về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc đồng thời chỉ ra một số sai lầm khi áp dụng quy định của Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện

Trong bài viết: “ Một số vấn đề về đánh giá chứng cứ trong xét xử vụ án hình sự”, tác giả Vũ Minh Giám cho rằng: Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là chính thức; các giai đoạn khởi tố, điều tra chỉ mang tính sơ bộ. Mặt khác, đây là giai đoạn cuối của quá trình chứng minh, nhằm rút ra kết luận, quyết định về vụ án hình sự. Do vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu, để từ đó, góp phần nhận thức thống nhất và nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ trong xét xử vụ án hình sự.

Đánh giá chứng cứ là hoạt động nhận thức, là quá trình hoạt động tư duy, xác định khả năng sử dụng chứng cứ để chứng minh những vấn đề cần phải chứng minh, đó chính là quá trình nhận thức logic về chứng cứ và là sự phù hợp của các chứng cứ trong toàn bộ hệ thống chứng cứ đã được thu thập.

Trong bài viết của mình, tác giả tập trung phân tích cụ thể về khái niệm đánh giá chứng cứ trong xét xử vụ án hình sự, về nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong một vụ án cụ thể; thông qua việc đưa ra một vụ án giả định, tác giả nêu ra những lập luận, phân tích về việc đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự.

Với bài viết: Bàn về diện tích tối thiểu được tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của địa phương đối với bản án, quyết định của Tòa án, tac giả Bùi Ai Giôn nhận định: Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp đất đai, Tòa án ban hành bản án, quyết định (gọi chung là quyết định của Tòa án) để phân chia tài sản hay ghi nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản của đương sự trong các vụ án dân sự. Để đảm bảo các quyết định của Tòa án về phân chia tài sản hay ghi nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản của đương sự được thi hành thì quyết định được ban hành phải đảm bảo các quy định của pháp luật như quy định của Luật Đất đai, các văn bản hướng dẫn có liên quan và phù hợp với quy định của địa phương[1]. Phù hợp với các quy định của địa phương ở đây được hiểu là phù hợp với kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai; diện tích, kích thước thửa đất theo quy định của từng địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, quyết định của Tòa án về phân chia tài sản cho các đương sự gặp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định về diện tích được phân chia nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung UBND cấp tỉnh). Nói cách khác, diện tích tối thiểu để tách thửa được quy định tại quyết định của UBND cấp tỉnh có điều chỉnh đến quyết định của Tòa án hay không? Trong phạm vi bài viết, tác giả nêu ra một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp về quy định diện tích tối thiểu để tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của địa phương đối với quyết định của Tòa án.

Trong bài viết: “Thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện – kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam  ”, tác giả Đỗ Văn Đại – Ngô Thị Anh Vân nêu nhận định: Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam ghi nhận sự tồn tại của ít nhất 04 loại thời hiệu, trong đó có thời hiệu khởi kiện. Tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”. Nhìn chung chế định thời hiệu khởi kiện có vai trò nâng cao tính kỷ luật trong giao dịch dân sự, từ đó sớm xác lập ổn định quan hệ dân sự, khuyến khích các bên tích cực, chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Ở đây, các nhà làm luật đưa ra các quy định về thời hạn, thời điểm bắt đầu, khoảng thời gian không tính vào thời hiệu cũng như bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

Trong quan hệ dân sự, ý chí của các chủ thể luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Điều này được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 như một nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, theo đó: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”. Từ đó, câu hỏi đặt ra là các bên liên quan có thể thỏa thuận về những vấn đề đã được pháp luật dự liệu về thời hiệu khởi kiện không? Đây là vấn đề không hoàn toàn mang tính lý thuyết vì kinh nghiệm tham gia giải quyết tranh chấp phải áp dụng pháp luật Việt Nam và thực tiễn giao kết hợp đồng tại Việt Nam cho thấy câu hỏi này thường xuyên được đặt ra và gây lúng túng cho những người làm thực tiễn.

Trong bài viết của mình, với việc phân tích các quy định pháp lý liên quan về thỏa thuận thời hiệu khởi kiện, chỉ ra kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, các tác giả đưa ra những gợi mở để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Kính mời Quý độc giả đón đọc Tạp chí Tòa án nhân dân số 03 năm 2021.

Tạp chí Tòa án nhân dân chân thành cảm ơn sự yêu mến và đồng hành của Quý độc giả trong năm vừa qua. Nhân dịp năm mới – Xuân Tân Sửu 2021, Tạp chí Tòa án nhân dân xin gửi tới Quý bạn đọc lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

 

*Tạp chí Tòa án nhân dân bản in được phát hành 02 số/tháng (lịch phát hành là vào ngày 10 và 25 hàng tháng). Bạn đọc có nhu cầu đặt mua Tạp chí xin liên hệ bưu điện gần nhất hoặc gọi đến số điện thoại: (024) 39.341.735 để được tư vấn, hỗ trợ

 
Bình luận (0)

Ðiền thông tin gửi bình luận

Tên hiển thị: *
Ðịa chỉ email: *

Nội dung (trên 20 ký tự): *

* Bình luận của bạn sẽ được ban quản trị phê duyệt trong thời gian sớm nhất

Hủy